SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
7
1
6
9
0
9
Nghiên cứu - Trao đổi Thứ Sáu, 25/08/2017, 14:10

Đồng bằng sông Cửu Long trên một con thuyền thích ứng Biến đổi khí hậu

Hệ thống Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật nên tổ chức nhiều hội thảo khoa học về biến đổi khí hậu ở ĐBSCL và mời các ngành cũng như các nhà khoa học, v.v… tham dự. Điều này rất quan trọng, vì cho chúng ta cơ hội để chia sẻ quan điểm và học hỏi nhau về kiến thức để phát triển đồng bằng. Bởi vì với lịch sử quản lý và trị thủy ở quá khứ cho thấy chúng ta không nên và không thể đối phó với những thách thức này một mình. Chúng ta cần vận dụng khu vực công lẫn khu vực tư nhân. Chính quyền cần đàm phán với các chính phủ trong lưu vực, kể cả với chính phủ Hà Lan cũng như chủ động hợp tác với nhiều quốc gia khác để cùng họ học hỏi và giải quyết những thách thức về nước.

 

I. Trên một con thuyền

 

Chúng ta có 13 tỉnh thành và hơn 17 triệu người sống trên một con thuyền gọi là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Theo dòng lịch sử trái đất có khi con thuyền ĐBSCL nổi lên cao trên mặt nước biển, nhưng cũng có khi chìm sâu dưới đáy đại dương. Lúc thuyền nổi chúng ta cùng tồn tại và phát triển, khi thuyền chìm chúng ta phải cùng nhau cứu thuyền, nếu không muốn chết chìm cùng nhau, hay phải tha hương cầu thực.

 

Khí hậu thế giới ghi nhận thời kỳ băng hà toàn trái đất cuối cùng xảy ra khoảng 20 ngàn năm trước đây. Sau đó khoảng 15 ngàn năm trước đây, các nhà khoa học khám phá nhiệt độ trung bình trái đất lúc đó thấp hơn “nhiệt độ chuẩn”[i] của trái đất là -5oC và người ta có thể đi bộ từ ĐBSCL đến một số đảo của Malysia và Indonesia. Vì nước biển đóng băng nhiều, biển Đông rất cạn và đó là thời kỳ biển lùi ra khơi mạnh nhất so với gần đây.

 

 

Khoảng 10 ngàn năm trước, khí hậu bắt đầu thay đổi. Trái đất nóng dần lên, băng tan nước biển dâng từ từ tiến vào đất liền. Đỉnh điểm nhiệt độ trái đất tăng đợt này là khoảng 6 - 8 ngàn năm trước đây. Lúc đó nhiệt độ trung bình của trái đất cao hơn nhiệt độ chuẩn khoảng 1°C. Lúc đó đường bờ biển là từ Hà Tiên chạy thẳng qua Phnom Penh, vùng ĐBSCL nằm sâu dưới mực nước biển.

Cho đến 5 ngàn năm trước đến nay. Trái đất đi vào chu kỳ băng hà mới. Nhiệt độ trái đất thấp dần, nước đóng băng nhiều hơn làm nước biển cũng lùi dần. Đồng thời, có một biến động địa chất làm cho sông Mekong trước đây chảy theo sông Hồng nay hướng về phương nam hình thành Biển Hồ và chảy ra biển đông kết hợp hiện tượng biển lùi bắt đầu tạo ra ĐBSCL. Đến khoảng cuối thế 17, nhiệt độ trung bình của trái đất thấp hơn nhiệt độ chuẩn khoảng -6°C (năm 1670). Tạo điều kiện cho ĐBSCL nổi  trên mực biển.

Nhưng với sự phát triển của loài người, mà chủ yếu là việc dùng các loại “năng lượng hóa thạch”[i]. Con người đã làm tăng nồng độ khí nhà kính trong không khí và hậu quả là làm cho nhiệt độ trái đất ấm dần lên. Đó là hiện tượng mà chúng ta gọi là “biến đổi khí hậu”. Biến đổi khí hậu hiện nay là hiện tượng nhiệt độ trung bình của trái đất tăng. Nhiệt độ tăng sẽ làm băng tan, nhiệt độ nước tăng và cuối cùng là làm mực nước biển dâng.

Có thể nói, vùng Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành từ nhiều yếu tố nhưng trong đó có 2 yếu tố ảnh hưởng chính. Đó là nhiệt độ tăng hay giảm của trái đất với hậu quả là biển tiến hay lùi. Và sự bồi đắp của sông Cửu Long với hàng triệu tấn phù sa. Rất không may là hai yếu tố hình thành ĐBSCL lại có diễn biến theo hướng bất lợi, làm tan rã đồng bằng.

 

Thật đáng tiếc cho loài người và dân cư ĐBSCL khi Trung Quốc và Lào đã quyết định đánh đổi lợi ích sinh thái dài hạn của cả lưu vực sông Mekong và cả nhân loại với lợi ích thủy điện ngắn hạn và cục bộ của họ. Với quyết định xây thủy điện thì hàng trăm triệu tấn phù sa của Mekong hàng năm không còn chảy về bồi đắp ĐBSCL trong tương lai.

 

Nhưng thủy điện chưa phải là vấn đề lớn nhất của ĐBSCL. Biến đổi khí hậu toàn cầu đang và sẽ là vấn nạn lớn nhất cho nhân loại nói chung và ĐBSCL nói riêng. Theo thỏa thuận Paris năm 2015 về ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu, các nước trên thế giới sẽ cố gắng giữ nhiệt độ trung bình của trái đất vào năm 2100 (còn 80 năm nữa) không tăng so nhiệt độ chuẩn quá 2°C. Điều này thật là khó khăn trong hoàn cảnh thế giới thải ra hàng năm gần 30 tỷ tấn “khí nhà kính”[i], trong khi khí quyển chỉ còn khả năng tiếp nhận tổng cộng khoảng 1.000 tỷ tấn khí nhà kính để nhiệt độ trung bình không vượt ngưỡng 2°C, tức là chỉ còn khoảng 30 năm nữa.

 

Trở lại với lịch sử khi nhiệt độ trái đất cao hơn nhiệt độ chuẩn chỉ 1°C, thì ĐBSCL bị nhấn chìm xuống biển, vậy khi nhiệt độ trung bình tăng thêm 2°C, thì ĐBSCL chỉ có thể nổi lên trên mực biển bằng phép màu, hoặc bằng tất cả sức lực của hơn 17 triệu dân cư cùng với sự quyết tâm của cả nước và quốc tế.

 

 

Thực tế tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu theo các nghiên cứu quốc tế như sau:

 

(1) “Báo cáo đánh giá biến đổi khí hậu” mới nhất (AR5) năm 2014 của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) của Liên Hiệp Quốc, mưa trên lưu vực sông Mekong sẽ không tăng thậm chí còn giảm từ đây đến 2100.

 

(2) Cuối năm 2016, Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia (NOAA) của Mỹ cũng theo báo cáo đó dự báo: Đến 2100 mực nước biển trung bình toàn cầu tăng thấp nhất là 0,3m (gấp 3 lần dự báo trước đó) và tăng cao nhất là 2,5m (cao hơn dự báo trước đó 0,5m).Và một nghiên cứu mới đây của NASA (Cơ quan Hàng không và Không gian, Mỹ) thế giới đang bắt đầu đi vào giai đoạn thiếu nước vì nguồn nước ngọt mặt đất không được bổ sung.

 

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, khi mực nước biển dâng 1m thi sẽ có gần 40% diện tích đất bị ngập nước. Mô hình nước biển dâng mới nhất của Bộ cho thấy, đến 2100, mực nước biển của đồng bằng sẽ dâng từ 55cm đến 75cm và phải cộng thêm độ lún đất, độ dâng của thủy triều và sóng biển dâng trong trường hợp có bão. Tổng cộng nước biển có thể dâng hơn 2,5m, khả năng toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long bị ngập sẽ chỉ là vấn đề thời gian.

 

Các số liệu đo đạt thực tế tại chỗ cũng cho thấy như sau. Mỗi năm trước đây đồng bằng nhận 160 triệu tấn phù sa, bình quân bồi đấp cho ĐBSCL 1-2mm/năm. Mực nước biển dâng trung bình của biển Đông là 3,5mm+0,7mm/năm. Nhưng theo nghiên cứu của dự án “Rise and Fall” của ĐBSCL thì đất lún tại đồng bằng là 25mm/năm. Như vậy, nước biển dâng và đất lún  sẽ làm ĐBSCL chìm nhanh xuống đáy biển và đó phải là vấn đề mà tất cả chúng ta, cả nước thậm chí là thế giới cần quan tâm giải quyết ngay từ bây giờ nếu không muốn chậm trễ.

 

Không chỉ ĐBSCL, tất cả các vùng đồng bằng trên thế giới đang phải đối mặt với một tình huống tương tự.Tất cả các châu thổ đều phải đối mặt với sự thay đổi khí hậu và sự sạt lở bờ sông, bờ biển, và ngày càng phải cưu mang bảo vệ nhiều sinh mạng hơn, nhiều tài sản có giá trị hơn.Chẳng những chúng ta phải đối phó với những điều không chắc chắn trong khí hậu tương lai, mà còn phải đối mặt với vấn đề gia tăng dân số, và hàng loạt vấn đề về kinh tế và xã hội và an ninh quốc phòng. Điều này đòi hỏi một cách lập kế hoạch mới, mà chúng tôi tạm gọi là “Chương trình đồng bằng thích ứng”.Nó tìm cách tối đa hóa tính linh hoạt củacác lựa chọn thích ứng để tối đa hóa lợi ích đầu tư và giảm các hối tiếc không đáng có.

 

II. Cùng nhau lèo lái vượt qua sóng gió

 

Đề xuất Chương trình đồng bằng thích ứng mà sau đây gọi tắt là Chương trình sẽ như sau:

 

Về hình thức: Chương trình được thể hiện dưới dạng một Dự ánTổng thể có mục tiêu dài hạn là giữ cho ĐBSCL an toàn về lâu dài và là một nơi hấp dẫn để sinh sống và làm việc. Trong đó sẽ có những mục tiêu ngăn hạn hàng năm.Nội dung, ngân sách và Chủ nhiệm của Chương trình và phải được Quốc hội phê duyệt, đồng thời giao chính quyền các cấp phải có trách nhiệm kịp thời phối hợp thực hiện.

 

Chương trình không phải là một phản ứng để đối phó với thiên tai mà là một kế hoạch dài hạn để giảm thiệt hại đến mức tối thiểu cho ĐBSCL nếu có thiên tai và kiến tạo ĐBSCL thành vùng sông nước, rất tốt cho sinh sống và làm việc cũng như du lịch, tham quan, nghĩ dưỡng.

 

Về quy mô: Chương trình có quy mô toàn vùng, liên ngành, dài hạn đến 2100 và xa hơn. Ngòai ra, phải xem xét việc hợp tác, tranh thủ với các quốc gia trên thượng nguồn sông Mekong và vùng ASEAN để thực hiện thành công chương trình.

 

Về nội dung

 

1. Nghiên cứu tìm hiểu thực tế diễn biến biến đổi khí hậu, năng lực và các mục tiêu thích ứng mong muốn của cư dân tại ĐBSCL.

 

2. Nghiên cứu các mục tiêu thích ứng phù hợp như:

 

(a) Cung cấp đủ nước ngọt cho sinh hoạt và cho các hoạt động của nền kinh tế của hơn 17 triệu người;

 

(b) Quản lý rủi ro do hạn hán và lũ lụt, ngập úng. Quy hoạch kiến thiết đất đai toàn vùng kết hợp bổ cập nước ngầm để chống lún đất, tạo điều kiện để xây dựng hệ thống công trình trị thủy hiệu quả và lâu dài;

 

(c) Tạo sinh kế bền vững cho tất cả mọi người, nhất là thành phần dễ bị tổn thương. Phát triển các loại công nghiệp phục vụ cuộc sống xanh, thân thiện môi trường, tiết kiệm tài nguyên năng lượng, nước. Phát triển thêm các dịch vụ sức khỏe, hậu cần và trung chuyển hàng hóa, thể thao, làm đẹp,… Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chuyển đổi từ từ sang sản xuất hữu cơ nhằm bảo đảm sức khỏe cộng đồng và gia tăng giá trị nông sản làm được;

 

(d) Quy hoạch được một không gian sống hài hòa cho không chỉ dân cư tại chỗ mà còn cho các loài động thực vật, sinh vật hoang dã bản địa và hấp dẫn khách du lịch đến thăm hàng năm.

 

3. Xây dựng luật bảo tồn phát triển đồng bằng theo hướng bảo vệ sinh mạng và nâng cao cuộc sống con người là chính, kèm theo yêu cầu thân thiện môi trường và sinh thái địa phương. Quy định các điều khoản để hỗ trợ chi thực thi thành công Chương trình; quy định về tổ chức bộ máy và quyền hạn; quy định về mối quan hệ trực thuộc, phụ thuộc hay hỗ trợ giữa các bên có liên quan; quy định về quy trình bổ sung thay đổi kế hoạch, quy định về thành lập nguồn vốn và quản lý sử dụng nguồn vốn,...

 

Thời gian vẫn còn để chuẩn bị cho mọi việc, để đi tìm hiểu thực tế đến từng địa phương, từng nhóm lợi ích của cộng đồng đồng bằng. Nhưng chúng ta phải bắt đầu ngay từ bây giờ, vì việc lập chương trình, kế hoạch và thực hiện các biện pháp, xây dựng công trình phải mất hàng thập kỷ, đôi khi dài hơn, trong khi thời gian giải cứu đồng bằng chỉ còn tính bằng năm.

Đ/c Kỷ Quang Vinh

Liên hiệp Hội thành phố Cần Thơ


[i]“nhiệt độ chuẩn” = Nhiệt độ trung bình của trái đất trong khoảng 10 ngàn năm trước hiện nay.

[i]“năng lượng hóa thạch” = tên gọi chung của dầu mỏ, than đá và khí mỏ.

[i]“Khí nhà kính” = là các loại khí CO2, CH4, N2O, Khí nhân tạo như CFC, HCFC, SF6..


Số lượt người xem: 255 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày