SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
6
7
6
0
4
5
Nghiên cứu - Trao đổi Thứ Sáu, 25/08/2017, 14:35

Một số giải pháp phát triển mô hình nuôi tôm thâm canh – bán thâm canh tại tỉnh Bạc Liêu

Bạc Liêu là tỉnh ven biển nằm giữa vùng sinh thái vừa mặn vừa ngọt của bán đảo Cà Mau. Có diện tích tự nhiên 254.190 ha, gồm 248.183 ha đất nội địa (trong đó: đất sản xuất nông – ngư – lâm – diêm nghiệp, chiếm 89,47 % tổng quỹ đất). Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo tinh thần Nghị quyết số  09/2000/NQ- CP ngày 15 tháng 6 năm 2000 của Chính phủ, đến nay tỉnh Bạc Liêu đã đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi sản xuất, những tiềm năng thế mạnh của từng ngành, từng vùng từng bước được phát huy và sử dụng có hiệu quả.

 

 

Theo thống kê, năm 2016 giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp đạt 29.471,7 tỷ đồng, chiếm 43,77% trong tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh (GRDP), trong đó nuôi trồng thủy sản đóng góp 70% trong tổng giá trị nông nghiệp. Với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh trên 131.000 ha (Sở Nông nghiệp, 2016), hiện Bạc Liêu đã, đang tồn tại nhiều mô hình nuôi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu từng tiểu vùng, phù hợp với điều kiện kinh tế của nông hộ: mô hình siêu thâm canh; mô hình thâm canh, bán thâm canh (trên 19.000 ha); mô hình quãng canh cải tiến, quãng canh cải tiến kết hợp (trên 80.000 ha); mô hình tôm-lúa (trên 31.000 ha).v..v. Riêng mô hình nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh (TC, BTC),  diện tích thực hiện trên 19.000 ha (tôm sú: trên 12.000 ha, tôm thẻ chân trắng trên 7.000 ha) chiếm khoảng 14,61% diện tích nuôi trồng thủy sản trên toàn tỉnh, tập trung chủ yếu ở các huyện, thành phố, năng suất 2,07 tấn/ha đối với tôm sú và 4,41 tấn/ha đối với tôm thẻ, sản lượng đạt 59.500 tấn. Đây là mô hình cung cấp nguồn tôm nguyên liệu chủ yếu cho nhu cầu chế biến xuất khẩu, mang lại nguồn ngoại tệ lớn đóng góp vào giá trị tổng sản phẩm của tỉnh. Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc phát triển mô hình nuôi tôm TC, BTC gặp một số khó khăn, thách thức như:

 

- Môi trường đang đứng trước nguy cơ bị ô nhiễm nghiêm trọng do việc xả thải tùy tiện của một số cơ sở nuôi, cơ sở thu mua, sơ chế và nhà máy chế biến thủy sản. Công tác quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng chống dịch bệnh được quan tâm nhưng chưa được đầu tư kịp thời trước diễn biến phức tạp về môi trường và dịch bệnh đã và đang diễn ra.

 

- Khả năng tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật của người nuôi còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, những năm gần đây người nuôi tôm đang phải đối mặt với nhiều rủi ro, bất lợi do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, môi trường ô nhiễm, tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi ngày càng có chiều hướng phức tạp và khó kiểm soát đã gây thiệt hại không nhỏ cho người nuôi và làm năng suất ở mô hình này trong nhiều năm qua còn thấp so với tiềm năng, sức đầu tư và lợi thế của vùng.

 

- Chất lượng các loại vật tư nông nghiệp đầu vào không ngừng tăng, giá sản phẩm tôm nuôi không ổn định, chất lượng con giống chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng, một bộ phận người dân chưa tuân thủ lịch thời vụ sản xuất của ngành chuyên môn, việc áp dụng quy trình kỹ thuật cải tạo ao nuôi, xử lý nước thải còn nhiều hạn chế, tình trạng lạm dụng thuốc, hóa chất, kháng sinh và lạm dụng sử dụng thuốc có nguồn gốc từ thuốc bảo vệ thực vật đã làm tồn lưu nhiều độc tố trong đất, nước; các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn đơn điệu, thiếu tính ràng buộc, quy mô sản xuất còn manh muốn, nhỏ lẻ.

 

- Hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất (giao thông, thủy lợi, điện) phục vụ sản xuất mặc dù đã có sự quan tâm khá đặc biệt nhưng vẫn chưa được đầu tư đồng bộ và hoàn thiện, chưa đáp ứng được các yêu cầu sản xuất thâm canh, tăng vụ.

 

Để hình thức nuôi này phát triển hiệu quả, bền vững, duy trì ở mức tăng trưởng cao, trong thời gian tới, cần tập trung một số giải pháp sau:

 

1. Nhóm giải pháp về kỹ thuật:

 

Nuôi mật độ thưa, mỗi năm thả một vụ đối với tôm sú và hai vụ đối với tôm thẻ chân trắng; có ao ương, ao lắng, đặc biệt là ao lắng sinh thái; nuôi phải có tính liên kết và trách nhiệm với cộng đồng; tăng cường sử dụng vi sinh, giảm thiểu tối đa việc sử dụng hóa chất, nuôi thân thiện với môi trường; cần tuân thủ khuyến cáo của các nhà khoa học theo  hướng “ ba không và ba có”:  Không dùng thuốc diệt giáp xác, cá tạp, ốc, rong, tảo, trong ao nuôi bằng thuốc trừ sâu, hóa chất có nguồn góc từ thuốc bảo vệ thực vật; không xã nước, bùn trong ao trực tiếp ra bên ngoài khi chưa được xử lý, không thả giống không rõ nguồn gốc xuất xứ; không được kiểm tra chất lượng và xét nghiêm , kiểm nghiệm các bệnh nguy hiểm; đối với “ ba có”: Phải có ao lắng và xử lý nước, bùn thải trước khi đưa ra môi trường bên ngoài; phải áp dụng qui phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (VietGAP), phải tham gia thành viên của các câu lạc bộ, tổ đoàn kết sản xuất, hợp tác xã, hiệp hội để hỗ trợ nhau, không sản xuất đơn lẽ.

 

2. Nhóm giải pháp về công tác thông tin -  tuyên truyền:

 

- Thông tin, tuyên truyền vận động bà con nâng cao ý thức chấp hành pháp luật: Luật thủy sản, Luật môi trường, nâng cao hơn nữa ý thức tự giác về bảo vệ môi trường là công tác trọng tâm hàng đầu, bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn, bảo vệ  môi trường là tự cứu mình.

 

- Tuyên truyền khuyến cáo lịch thời vụ sản xuất, để mọi người hiểu tại sao phải sản xuất theo thời vụ. Từ nhận thức đầy đủ, thấy rõ được lợi ích mới tự giác tuân thủ và vận động mọi người cùng thực hiện.

 

- Thông tin, tuyên truyền nông dân thấy rõ tác hại của việc sên bùn, vứt rác bừa bãi, xã nước thải tôm bệnh ra sông, việc đặt nò, đó, vó lú làm cạn kiệt nguồn lợi, ngăn dòng chảy làm cho hệ thống thủy lợi mau bồi lấn, thiếu nguồn nước cấp, đây cũng là nguy cơ gây ô nhiễm cục bộ và làm tăng khả năng bùng phát dịch bệnh.

 

3. Nhóm giải pháp về quy hoạch:

 

- Đầu tư, nạo vét hoàn chỉnh hệ thống kênh mương định kỳ; đầu tư hệ thống lưới điện; các trạm, mạng lưới quan trắc, cảnh báo môi trường, phòng ngừa dịch bệnh.

 

- Thu hút mạnh mẽ hơn nữa các nhà đầu tư vào các lĩnh vực như: Sản xuất giống tôm sú, thẻ chân trắng an toàn dịch bệnh; nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao; liên kết chuỗi giữa doanh nghiệp và người nuôi v, v,

 

4. Nhóm giải pháp về quản lý và tổ chức sản xuất:

 

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các loại vật tư nông nghiệp đầu vào; tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm.

 

- Tăng cường xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã để tạo mối liên kết giữa sản xuất tôm nguyên liệu và chế biến xuất khẩu…

Lê Kim Yến

                                                                                     Trung tâm Khuyến nông Bạc Liêu


Số lượt người xem: 222 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày