SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
6
7
6
0
1
3
Nghiên cứu - Trao đổi Thứ Hai, 28/08/2017, 14:30

Phổ biến cách chẩn mạch Đông Y

A.  BỘ MẠCH NGŨ HÀNH CỦA VƯƠNG THÚC HÒA:

Bộ bên Trái              Bộ  bên Phải

 

Tiểu Trường

Tâm (Vua Hỏa)

Đại Trường

Phế (Kim)

Thốn

 

Đởm

Can (Mộc)

Vị

Tỳ (Thổ)

Quan

Bàng Quang

Thận (Thủy)

Thận (Mệnh Môn)

Tâm Bào

(Tướng Hỏa)

Xích

 

      Nghiên cứu về biến đổi bệnh lý của con người, người xưa thấy mỗi biểu hiện của bệnh lý đều làm thay đổi mạch tượng.

B.  BỘ MẠCH LỤC KHÍ:

Chiều vận hành của 6 kinh Âm - 6 kinh Dương theo lục khí.

 

                 - Chiều tương sinh của kinh Âm:

- Chiều phản sinh của kinh Dương:

1. Bộ Thủy: Âm Thủy (Thận) – Dương Thủy (Tiểu Trường)

2. Bộ Thử: Âm Thử (Tâm) – Dương Thử (Đởm)

3. Bộ Mộc: Âm Mộc (Can) – Dương Mộc (Tam Tiêu)

4. Bộ Hỏa: Âm Hỏa (Tâm Bào) – Dương Hỏa (Vị)

5. Bộ Thổ: Âm Thổ( Tỳ) – Dương Thổ ( Đại Trường)

6. Bộ Kim: Âm Kim (Phế) – Dương Kim (Bàng Quang)

      * “Can tàng huyết và Phế tàng Khí. Can chủ về huyết, Phế chủ về khí: Phế và Can nằm ở Bộ Quan, là cửa ngõ của khí và huyết”.

C. CÁCH CHẨN MẠCH:

Người xưa dựa vào hơi thở nhịp nhàng bình thường của Thầy thuốc để làm chuẫn khi chẩn mạch: Mỗi lần thở ra hít vào gọi là 1 Tức, 1 mạch đập gọi là 1 Chí.

- Bình thường cứ mỗi 1 nhịp thở mạch đập 4 lần“nhất Tức tứ Chí vi bình mạch”. Mạch đi rõ ràng có lực ở mức sơ án, trung án và trọng án là mạch bình thường.

- Khi xem mạch thầy thuốc đặt 3 ngón tay trỏ, giữa và ngón áp út đều nhau trên động mạch tay quay của người bệnh. Chỗ đặt ngón tay trỏ về phía bàn tay gọi là bộ “Thốn”, chỗ đặt ngón tay giữa gọi là bộ “Quan”, Chỗ đặt ngón tay áp út gọi là bộ “Xích”. Ba bộ vị “, Thốn, Quan, Xích” gọi là tam bộ:

- Khi 3 ngón tay ấn nhẹ lên da thịt gọi là  bộ                 “Thiên”

- Khi 3 ngón tay ấn nặng sâu vào phần thịt gọi là bộ“Nhân”

- Khi 3 ngón tay ấn sâu gần xương gọi là bộ                  “Địa”

Cộng 3 mức lại, mỗi mức 3 vị, 3 mức có 9 vị gọi:“Cửu hậu”

2 cổ tay có 6 bộ: 2 bộ Quan, 2 bộ Xích, 2 bộ Thốn ứng với Tạng Phủ.

Ta dùng trọng lượng hạt đậu làm chuẩn trong chẩn đoán mạch, ấn độ nặng tay theo trọng lượng hạt đậu từ  da xuống sát xương của 3 Bộ mạch: Thốn, Quan, Xích

- Ứng với trọng lượng 3 hạt đậu gọi là Sơ án;

- Ứng với trọng lượng 6 hạt đậu gọi là Trung án;

- Ứng với trọng lượng 9 hạt đậu gọi là Trọng án;

- Ứng với trọng lượng 12 hạt đậu là Sát xương.

* Thầy thuốc cần luyện tập ổn định hơi thở để làm chuẫn trong khi chẩn mạch. 

Nhất tức tứ chí vi bình mạch” 1 hơi thở  có 4 mạch đập là mạch bình thường.

* Tư thế xem mạch:

- Tư thế bệnh nhân: có thể ngồi thẳng hoặc nằm ngửa cánh tay  duỗi thẳng.

- Thầy thuốc: ngồi nghiêng đối diện với bệnh nhân, dùng tay trái chẩn mạch tay phải bệnh nhân, dùng tay phải chẩn mạch tay trái bệnh nhân. Đặt ngón tay giữa vào bộ Quan, ngón trỏ vào bộ Thốn, ngón áp út vào bộ Xích. Ba ngón tay của Thầy thuốc dài ngắn không bằng nhau, nên phải để 3 đầu ngón tay bằng nhau khi chẩn mạch. Trong 3 ngón tay thì ngón trỏ nhạy cảm nhất, dùng cạnh của đầu ngón tay ấn lên mạch của bệnh nhân.

* Khi chẩn mạch ta chú ý các điểm sau đây:

- 1 là: tần số của mạch: đi nhanh hay chậm( đi Sác hay Trì), đều hay không đều.

- 2 là: đi nông hay sâu (đi phù hay trầm; chìm hay nỗi).

- 3 là: đi hữu lực hay hay vô lực ( đi Tế hay Đại).

- 4 là mạch đi đều hay không đều.

- 5 là so sánh giữa các bộ mạch với nhau:

+ bộ Quan của khí (tay P) với bộ Quan của huyết (tay T).

+ bộ Thốn của khí (tay P) với bộ Thốn của huyết (tay T).

+ bộ Xích của khí (tay P) với bộ Xích của huyết (tay T).

Và cuối cùng so sánh giữa các Bộ với nhau.

* Mạch bình thường:

- Về tần số: “Nhất tức tứ chí vi bình mạch” = 1 hơi thở  có 4 mạch đập là mạch bình thường (= mạch nẩy 80/ lần/ phút, nhip thở bình thường từ 17-20/lần/ phút ); “Ngũ chí dĩ thượng: 5 mạch là cao (= mạch 85-100 lần/phút là cao); Tam chí, Nhị chí số mục khả suy”.

- Về mức độ ấn chẩn cùng lúc 3 Bộ Thốn, Quan, Xích: khi ấn 3 ngón tay đều nhau từ trên xuống: ở Bộ Quan đến 0,1… hạt đậu là có mạch, còn Thốn, Xích chưa có mạch và tiếp tục ấn đến mức sơ án cả 3 Bộ Thốn, Quan, Xích có mạch nẩy ngang nhau; tiếp tục ấn đến trung án rồi đến trọng án 3 Bộ mạch đều nẩy ngang nhau; ấn tiếp đến 10, 11 hạt đậu thì Bộ Quan còn mạch và Bộ Thốn, Bộ Xích mất. Đó là Bộ mạch bình thường

- Mạch Phù (nỗi): là mạch ấn từ nhỏ hơn 6 hạt đậu trở lên da (nghĩa là từ 0,1 hạt đậu đến 5,9 hạt đậu), đó là mạch Dương (mạch Hỏa) gọi là mạch Phù.

- Mạch Trầm (Chìm) Ấn từ 6,1 hạt đậu trở xuống đến sát xương có mạch đó là mạch Âm (Thủy) gọi là mạch Trầm.

D. SÁU BỘ MẠCH BỆNH LÝ:(Phù, Trầm, Trì, Sác, Tế, Đại)

1. BỘ MẠCH PHÙ

- Phù vi chủ Biểu thuộc Phủ, thuộc Dương.

- Khinh thủ nhất chẩn, hình tượng chương chương.

- Phù nhi hữu lực, Hồng mạch hỏa dương.

- Phù nhi vô lực, Hư mạch khí thương.

- Phù nhi hư thậm, Tán mạch phỉ thường.

- Phù nhi song quản, Hống mạch huyết ương.

- Phù nhi án cổ, Cách mạch ngoại cường.

- Phù nhi nhu tế, Nhu mạch thấp phương.

Diễn giải: Mạch phù là mạch đi từ 0,1 - 5,9 hạt đậu.

- Mạch Phù (mạch nổi) chủ Biểu thuộc Phủ thuộc Dương.

- Khinh thủ nhất chẩn: ấn độ nhẹ tay thứ nhất, là hình tượng mạch nổi lên.

- Phù mà có lực là mạch Hồng  hỏa dương, mạch có từ 0,1 – 5,9 hạt đậu.

- Phù mà vô lực là mạch Hư khí bị tổn thương, mạch có từ 0,1 – 4,5 hạt đậu.

- Phù-Hư thậm gọi là mạch Tán khí - huyết mất nhiều, mạch có từ 0,1 – 3,5 hạt đậu.

- Phù mà rỗng ở giữa là mạch Hống: ấn tay xuống 3 hạt đậu có mạch, đến 4 hạt mất mạch, sau đó 5,9 hạt đậu mạch có lại ( mạch đi như cọng hành, rổng ở giữa).

- Phù mà nhấn tay xuống cứng như mặt trống là mạch Cách tà khí bên ngoài tấn công mạnh vào cả phần dương lẫn phần âm của kinh mạch.

- Tế nhu là mạch đi vừa nhỏ vừa mềm gọi là Mạch Nhu, thấp khí hiện hữu.

 

 

 

2. BỘ MẠCH TRẦM

- Trầm vi chủ thuộc Tạng thuộc Âm.

- Trọng thủ tầm án thủy liễu qui tâm.

- Trầm nhi trước cốt Phục mạch tà thâm.

- Trầm nhi tế nhuyễn, Nhược mạch hư tầm.

- Trầm nhi để ngạnh, Lao mạch hàn xâm.

Diễn giải:  Mạch Trầm ( chìm) là ấn tay từ 6,1- 12 hạt đậu mới thấy mạch ( Thủy).

- Mạch trầm thuộc lý, thuộc tạng, thuộc âm. - Trọng thủ tức là nặng tay, Trọng thủ tầm án: là tìm độ ấn nặng tay, thủy liễu vô tâm là máu chảy về tim. - Mạch trầm ở trước xương gọi là mạch Phục tà khí đi vào sâu (ứng với 12 hạt đậu). - Trầm nhi tế nhuyễn: mạch trầm đi nhỏ -  mềm gọi là mạch Nhược, hư chứng. - Trầm nhi để ngạnh là: mạch trầm đi cứng như ngạnh cá trê là mạch Lao hàn khí xâm nhập vào trong các tạng.

3. BỘ MẠCH TRÌ

- Trì vi chủ Hàn, Tạng bệnh diệc thị.

- Tam chí, nhị chí, số mục khả suy.

- Trì nhi bất khiên, Hoản mạch tối mỹ.

- Trì nhi bất lưu, Sáp mạch huyết bỉ.

- Trì nhi ngẫu đình, Kết mạch uất thực.

- Trì chỉ định kỳ, Đợi mạch đa tử.

 Diễn giải: - Mạch Trì (mạch chậm) chủ về Hàn, các Tạng bị bệnh bệnh (Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận, Tâm Bào Lạc). - “ Nhất Tức tứ Chí vi bình mạch”: 1 hơi thở có 4 mạch đập là mạch bình thường. Mạch nhẩy 3 cái, 2 cái, số mục mà suy ra. - Mạch chậm đi không vướng mắc gọi là mạch Hoản. - Mạch chậm đi không lưu loát gọi là mạch Sáp, huyết bị bế. - Mạch chậm đang đi bổng dưng nó ngừng, gọi là mạch Kết do khó tiêu hóa. - Mạch chậm định kỳ nó ngừng (theo chu kỳ) gọi là mạch Đợi đa phần là chết.

4. BỘ MẠCH SÁC

- Sác vi chủ Nhiệt, Phủ bệnh diệc đồng.

- Ngũ chí dĩ thượng, thất- bát nhân chung.

- Sác nhi lưu lợi, Hoạt mạch đàm mông.

- Sác nhi khiên chuyển, Khẩn mạch hàn công.

- Sác nhi hữu chỉ, Xúc mạch nhiệt hồng.

- Sác kiến ư quan, Động mạch băng Trung.

 Diễn giải: - Mạch Sác (mạch nhanh) chủ về nhiệt, tất cả các Phủ đều bị bệnh. - Nhịp mạch nhảy 5 cái  là cao, bảy – tám thì làm người ta chết. - Mạch nhanh, lưu thông thuận lợi (mạch đi đều) là mạch Hoạt đàm tích tụ. Mạch Hoạt: mạch đi như hòn bi lăn tròn trơn tru dưới ngón tay. - Mạch nhanh di chuyển  bị vướng mắc, gọi là mạch Khẩn hàn thử đang tấn công. - Mạch nhanh có ngừng gọi là mạch Xúc, nhiệt khí (trong khi đó mạch Khẩn không có ngừng). - Mạch nhanh thấy ở bộ Quan, gọi là mạch Động, “băng Trung”: ở lực Trung án không có mạch.

5. BỘ MẠCH TẾ

-  Tế chủ chư Hư, thù ty kỳ tượng

- Mạch đạo thuộc Âm, bệnh tình khả tưởng

- Tế bất hiển minh Vi mạch huyết ương

- Tế nhi tiểu Phù, Nhu mạch thấp trưởng

- Tế nhi tiểu Trầm, Nhược mạch thất dưỡng.

 Diễn giải: - Hư chứng đi theo mạch Tế (mạch nhỏ), hình tượng nó đi nhỏ như sợi tơ nhện. - Mạch đạo thuộc Âm (mạch Âm: gồm Tế, Trầm, Trì), bệnh tình đoán biết được.  - Mạch Tế đi không rõ ràng là mạch Vi, huyết bị tổn thương. - Mạch Tế: mạch nhỏ đi ở độ Phù gọi là Nhu, thấp khí đang lớn. - Mạch Tế đi ở độ trầm gọi là mạch Nhược thiếu dinh dưỡng.(Phù nhi nhu tế Nhu mạch thấp phương, Trầm nhi tế nhuyễn Nhược mạch hư tầm).

6. BỘ MẠCH ĐẠI

- Đại chủ chư Thực, hình khoát dị tri

- Dương mạch vi bệnh, tà thật khả tư

- Đại nhi hữu lực, Hồng mạch nhiệt từ

- Đại nhi dũng khí, Thực mạch tà trì

Diễn giải: - Mạch Đại chủ Thực (thực bệnh) hình của nó mạnh mẽ dễ dàng nhận rõ. - Bệnh thuộc kinh dương, tà khí rõ ràng. - Mạch lớn có lực gọi là mạch Hồng đang sốt.       - Mạch lớn hữu lực là mạch Thực tà khí tấn công.

+ Hồng mạch chỉ có ở độ phù: chỉ ở phần dương.

+ Thực mạch chỉ có ở độ trầm tà khí vào sâu phần âm. Thực mạch tương tự như mạch Lao (nhưng mạch lao nó cứng, mạch thực nó không cứng mà nó lớn).

Ngoài ra còn có thêm 4  mạch nữa là:

-  Mạch Tuyệt:              không có mạch (vô mạch)     

- Mạch Đoản: “Đoản chủ tố Nhược, bất do bệnh thương”: Mạch ngắn nhỏ, không do bệnh mà do suy nhược. Mạch Đoản đi ngắn nhỏ, ở đầu sóng mạch đi thấp, ở giữa cao và ở cuối sóng mạch lại thấp, hiện hữu ở bộ Thốn hoặc bộ Xích (nếu bộ Quan có mạch là chính khí hiện hữu ở sơ án, trung án, trọng án thì không gọi là Đoản).

- Mạch Trường: “Trường chủ tố cường đắc chi tối hảm”: mạch đi dài mạnh mẻ dễ ra mồ hôi, gặp ở người lao lực, bệnh sắp khỏi.Mạch Trường nó đi dài cả Thốn Quan-  Xích.

- Mạch Huyền: đi căng như sợi dây đàn, thẳng và dài có cả ở phù lẫn trầm. Mạch Huyền đi Phù giống như mạch Cách, đi Trầm giống mạch Lao.

Tổng cộng 6 bộ mạch: Phù, Trầm, Trì, Sác, Tế, Đại có:  28 mạch bệnh lýtrừ đi 3 mạch (mạch Hồng, mạch Nhu và mạch Nhược vì tính 2 lần) = 25 và cộng thêm 4 mạch: Huyền, Trường, Đoản, Mạch Tuyệt = 29 mạch  bệnh lý 7 mạch quái)

SỰ KHÁC NHAU CỦA 6 BỘ  MẠCH BỆNH LÝ TRONG BỘ MẠCH  LỤC KHÍ

 

 F. THẤT QUÁI MẠCH:

1. Ngư Tường: đi sát da, hình tượng như “cá vẫy đuôi 1 cái, hay nhiều cái” khi cá sắp chết:  Mạch đi ở ngay da, có đầu cố định có đuôi quẫy động, mạch đi phù thấy:

- Ở Bộ Thốn thấy (Quan và Xích không thấy).

- Hoặc ở Bộ Xích thấy (Quan và Thốn không thấy).

2. Canh phí (Phủ Quất): Mạch đi ở sát da, đi phù chỉ có sơ án mà thôi, trung án không có, có thể dáng như nước sôi trào ra nhè nhẹ, có ra mà không có vào.

3. Hà Du (Tôm bơi… Tôm búng): Mạch đi ở mặt da (đi phù) như tôm bơi dưới nước lâu lâu nó búng 1 cái mạnh… lâu lâu búng 1 cái… chỉ thấy ở 1 bộ mà thôi: Thốn, hoặc Quan, hoặc Xích.

4. Ốc Lậu (nhà dột): Mạch đến như giọt nước mưa dột từ mái nhà xuống nhưng sắp hết, lâu lâu mới nhiễu 1 giọt đều đều chậm rải (nhẹ hơn Hà Du, nhưng mạnh hơn Ngư Tường), mạch vô lực.

5. Giải Sách: Mạch đến như cuộn dây mở tung ra, đi tán loạn không trật tự (rối như rơm, không rỏ ràng, không phân biệt được).

6. Đàn Thạch (đánh vào đàn đá): Mạch đến dưới tay rất gấp nhưng rắn cứng như đàn đá (Sơ án có... ấn xuống Trung án khó, khó vô cùng) có ở 3 Bộ Quan, Xích, Thốn.

7. Tước Trác (chim mổ): Mạch đi ở mặt da đến dưới tay liên tục, nhanh như chim sẻ mổ… mổ rồi ngưng... Thấy ở Bộ Quan, hoặc Xích,  hoặc Thốn.

Thầy thuốc ưu tú Bs Tô Quốc Đức


Số lượt người xem: 1298 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày