SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
7
1
6
7
7
6
Nghiên cứu - Trao đổi Thứ Hai, 08/10/2018, 14:25

Ứng dụng Công nghệ cao để phát triển Nông nghiệp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Bạc Liêu

Ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đang trở thành vấn đề được các nhà khoa học và các nhà sản xuất, các doanh nghiệp quan tâm rất nhiều. Hiệu quả ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp thông qua các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ các quốc gia như Israel, Hà Lan, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn quốc…đang ngày càng thu hút sự quan tâm của các quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp, trong đó có Việt Nam, đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới về các công nghệ quản lý cũng như tổ chức sản xuất, các mô hình hoạt động hiệu quả.

*Thách thức lớn hiện nay đối với nông nghiệp Việt Nam nói chung ở Đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL) nói riêng.

Tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng mạnh đến Việt Nam. Việc cấp bách hiện nay không chỉ ứng phó với biến đổi khí hậu( BĐKH) như tình trạng nước biển dâng, hạn hán, mưa lũ…mà còn phái giải quyết tận gốc tình trạng sụt lún ĐBSCL do nạn khai thác nước ngầm, khai thác cát sông một cách tràn lan, vô tội vạ. Cần nhận thức bối cảnh mới của nước ta, đó là tình trạng nước ngọt khan hiếm, lũ về ít ở Vùng ĐBSCL, nguồn lợi thủy sản ít đi, trầm tích về ít hơn, phù sa về ít và tình trạng sụt lún, xói lở ngày càng nghiêm trọng, xuất hiện nhiều yếu tố bất định.

 

Trong lĩnh vực thủy sản, có các ứng dụng phương pháp Biofloc trong nuôi thủy sản; ứng dụng công nghệ sinh học như công nghệ gene, công nghệ tế bào,… trong sản xuất giống sạch bệnh, tăng trưởng nhanh và sức chống chịu cao; sản xuất giống đơn tính, giống tam bội; tạo màu cá cảnh;, sản xuất giống và lai tạo các giống cá kiểng mới; sử dụng kích thích tố để tăng tỷ lệ cá đẻ, hiệu quả sản xuất cá giống; ứng dụng công nghệ sinh học để xử lý nước, phòng trị bệnh nuôi  trồng thuỷ sản, ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến để sản xuất vaccine và các hợp chất thiên nhiên phòng trị bệnh thuỷ sản…

 

Theo đánh giá của các nhà khoa học, trong vòng 5 năm gần đây, công nghệ đã đóng góp khoảng 35% trong giá trị tăng trưởng của nông nghiệp ở nước ta. Trên cơ sở xây dựng mối liên kết giữa các nhà khoa học và nông dân, các cơ quan nghiên cứu đã nắm bắt được những đòi hỏi của thực tế sản xuất và nhu cầu của xã hội, từ đó có những định hướng nghiên cứu phù hợp và thu được những thành tựu nổi bật.

 

Hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới sẽ đem lại không ít bất lợi, nếu sản xuất nông nghiệp Việt Nam thiếu bước chuyển mình thật sự. Nông dân hiện nay rất cần kỹ thuật cao; cần được các nhà khoa học, quản lý và nhà nước chăm sóc tốt hơn nữa. Thế nhưng, chuyển giao bằng cách nào và làm thế nào để nông dân đón nhận công nghệ không phải là chuyện đơn giản. Khi chuyển giao cho nông dân phải có phương thức phù hợp, có mục tiêu sản xuất rõ ràng, phải phù hợp với trình độ và khả năng của nông dân. Phải chuyển giao công nghệ bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng trên mô hình và máy móc, thiết bị cụ thể là chính. Trong tất cả các phương pháp chuyển giao KH – CN, việc xây dựng các mô hình trình diễn có vai trò hết sức quan trọng. Thông qua hiệu quả các mô hình trình diễn, người nông dân sẽ dễ dàng tiếp thu và tin tưởng vào các tiến bộ KH – CN được giới thiệu. Ngoài ra, muốn chuyển giao công nghệ thành công và bền vững phải có mạng lưới cán bộ khoa học cấp cơ sở có trình độ trung cấp trở lên tiếp nhận trước rồi hướng dẫn cụ thể cho nông dân.

 

Nông nghiệp Việt Nam đang đối đầu với nhiều khó khăn của sự phát triển kinh tế như: qui mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, năng suất, độ đồng đều, chất lượng sản phẩm cũng thấp, khả năng hợp tác liên kết của nông dân Việt Nam cũng còn hạn chế. Dịch vụ và cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho việc phát triển nông nghiệp nông thôn không theo kịp với đà tăng trưởng kinh tế của toàn xã hội. Việc cải cách hành chính chuyển đổi cơ cấu thể chế cũng chậm, môi trường pháp lý đầu tư kinh doanh cũng nhiều bất cập, thị trường đất, lao động, vốn, công nghệ chưa vận hành một cách thuận lợi.

Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông (Information and Communicate Technology - ICT) trong nông nghiệp rất đa dạng, phong phú và hiệu quả. Tùy thuộc vào trình độ phát triển sản xuất và trình độ của lực lượng lao động mà những ứng dụng này sẽ được thiết kế cho phù hợp. Các lĩnh vực ứng dụng ICT trong nông nghiệp bao gồm: Ứng dụng ICT để tiếp cận thị trường và chuỗi giá trị, để tiếp cận các dịch vụ tài chính, để quản lý chuỗi cung ứng, để tăng năng suất cây trồng và vật nuôi, để quản lý rủi ro, để quản lý đất đai, để cải thiện tính an toàn sản phẩm và truy xuất nguồn gốc nông sản, để nâng cao năng lực quản lý nông thôn, để cải thiện hệ thống sáng kiến và để hỗ trợ các nông hộ qui mô nhỏ. 
 

*Tổng quan ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp Việt Nam:


Các ứng dụng công nghệ vào lĩnh vực nông nghiệp rất đa dạng và phong phú, đã góp phần đẩy nhanh sự phát triển về mặt năng suất và chất lượng cây trồng. Trong lĩnh vực giống cây trồng là việc tạo ra các giống cây trồng biến đổi gene với các đặc tính kháng được thuốc trừ cỏ, kháng sâu bệnh. Trong nhng năm gần đây, chúng ta đã đang đạt được nhng tiến bộ đáng kể trong việc gim chi phí ngày càng d ng hơn trong giải trình t gen, gn đây, là việc kích hoạt hay chỉnh sa gen. Với nhng tiến bộ trong sức mnh máy tính, các nhà khoa học không còn phải giải mã bằng các phép th đúng sai; thay vào đó, gi đây, h thử nghim cách thc các biến dị gen gây ra các bnh đặc thù. Khả năng chỉnh sa sinh học th được áp dụng cho bất k một loại tế bào cụ thể nào, cho phép tạo ra các thc vt hoặc động vật biến đổi gen, cũng như thay đổi tế bào của các cá thể trưởng thành. Trong nhân giống Công nghệ nuôi cấy mô thực vật invitro là phương pháp nhân giống thực vật đã được ứng dụng khá lâu, đã đem lại hiệu quả cao trong nhân giống nhiều lọai cây trồng nông nghiệp. Đây là kỹ thuật tiên tiến với các ưu thế vì tính khả thi lớn, có thể công nghiệp hóa cao trong việc nhân giống để có số lượng lớn cây giống với độ đồng đều cao. công nghệ trồng cây trong nhà kính đã được hòan thiện với trình độ cao để canh tác rau và hoa. Các nhà kính với hệ thống điều khiển tự động khá hiện đại được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia như Hà Lan, Pháp, Bỉ, Israel  đã sản xuất lượng lớn hoa và rau phục vụ cho xuất khẩu. Trong các nhà kính này, các khâu trong quy trình trồng trọt đều được điều khiển tự động theo lập trình sẵn trong máy vi tính như: chế độ chiếu sáng, nhiệt độ, tưới nước, bón phân, phun thuốc BVTV… Công nghệ trồng cây trong dung dịch (thủy canh), khí canh và trên giá thể.  Công nghệ trồng cây trong dung dịch đã xuất hiện từ lâu trên thế giới và trở nên quen thuộc đối với các nhà vườn sử dụng hệ thống nhà kính. Với việc sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt có hệ thống điều áp, có thể sử dụng trên những địa hình khác nhau làm cho việc tưới nước trở nên đơn giản và thuận tiện hơn. Thông thường hệ thống tưới nhỏ giọt được gắn với bộ điều khiển lưu lượng và cung cấp phân bón cho từng lọai cây trồng, nhờ đó tiết kiệm được nước và phân bón.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, có các ứng dụng phần mềm trong quản lý sức khỏe, trong quản lý khẩu phần và dinh dưỡng của từng cá thể vật nuôi; ứng dụng phương pháp BLUP để đánh giá hệ số di truyền của vật nuôi; Ứng dụng các kỹ thuật CNSH mới, hiện đại như ELISA (Direct ELISA, competitive ELISA, Sandwich ELISA, Multiplex ELISA,…), PCR (real-time PCR, nested PCR, competitive PCR,…), Sequencing,… để chuẩn đoán nhanh và chính xác, cả định tính và định lượng, kháng nguyên và kháng thể,… các bệnh trên gia súc gia cầm; ứng dụng phương pháp cắt phôi và cải tiến phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm phục vụ lĩnh vực sinh sản động vật; sản xuất và sử dụng các chế phẩm sinh học có nguồn gốc thiên nhiên nhằm thay thế và hạn chế việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi; sản xuất vaccine; ứng dụng công nghệ sản xuất các chế phẩm sinh học hỗ trợ cho quá trình biến dưỡng như enzym phytase, cellulase, protease,.. để giúp sử dụng hiệu quả TĂCN và giảm ô nhiễm môi trường; sản xuất các vi sinh vật có ích bổ sung trong thức ăn; xác định giới tính vật nuôi…

Về nhận định chung, có một thực tế đang tồn tại là trình độ sản xuất của nông dân ở mức độ thấp; giống cây trồng, vật nuôi vẫn chưa kiểm dịch đầy đủ và cũng chưa kiểm soát nguồn gốc, chưa kiểm soát tốt phân bón hoá học, công tác bảo quản sau thu hoạch, bao bì, nhãn hiệu hàng hoá, thương hiệu vẫn chưa đáp ứng theo chuẩn mực yêu cầu của quốc tế trong quá trình hội nhập. Đi đôi với những bất lợi đó là giá thành sản xuất vẫn còn cao, chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm chưa được quan tâm đầy đủ khi đưa sản phẩm ra thị trường. Đó là chưa kể một số vấn đề phát sinh, sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp nước ta trong thời gian tới như: đất nông nghiệp và đất canh tác bình quân đầu người giảm do tăng dân số, đất đai bị xói mòn, thoái hoá do nạn phá rừng gây ra. Môi trường sinh thái cũng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng ở một số địa phương do chất thải công nghiệp, do sử dụng bừa bãi phân hoá học, hoá chất trừ sâu, diệt cỏ, gây ô nhiễm đất canh tác, nguồn nước mặt, nước ngầm và để dư lượng chất độc hại trong nông sản thực phẩm… 

Công tác nghiên cứu và phát triển công nghệ cao của Việt Nam thiếu định hướng vào ứng dụng cho đối tượng doanh nghiệp, nông dân. Các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là: trình độ nuôi trồng của nông dân thấp, chưa đủ khả năng tiếp cận công nghệ mới; Chính phủ, chính quyền địa phương thiếu các giải pháp khả thi trong việc chuyển giao công nghệ; đất sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ, khó áp dụng các kỹ thuật công nghệ cao trong sản xuất, nông dân thường hạn chế về vốn, trong khi vay vốn phát triển mô hình sản xuất NNCNC là mô hình hoàn toàn mới với họ. Việc thu hút doanh nghiệp tham gia nghiên cứu tạo và phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp rất ít là do công đoạn này thường gặp nhiều rủi ro, chi phí đầu tư nghiên cứu lớn. 

 

Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chưa có chính sách ưu đãi thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực nông nghiệp. 
 

Xây dựng chuỗi giá trị ngành hàng chưa xuyên suốt và đồng bộ. Nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác trong sản xuất các sản phẩm chủ lực của ngành vẫn chưa làm tốt vai trò liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản; chưa tập hợp được nhiều nông dân tham gia; ngành nghề hoạt động còn đơn điệu.

 

Công tác kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định của các đơn vị chức năng chưa nghiêm ngặt, còn mang tính hình thức, thiếu tính minh bạch.

 

Việc nhìn nhận những hạn chế, yếu kém trong ngành một cách cầu thị sẽ giúp tìm ra các giải pháp, chính sách phù hợp để phát triển nông nghiệp, tái cấu trúc lại ngành cho phù hợp hơn với xu thế phát triển của ngành nông nghiệp trên thế giới.

 

*Một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp:
 

Những giải pháp thay đổi về cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi; thay đổi biện pháp kỹ thuật trong canh tác hoặc chăm sóc là những biện pháp cơ bản, có tác động lâu dài và rộng rãi đến đời sống và thu nhập của người sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp cũng là giải pháp hết sức hữu hiệu, có giá trị và tác động thay đổi căn cơ nền nông nghiệp cần được đặc biệt quan tâm và có những chính sách khuyến khích để thúc đẩy phát triển, cụ thể như:
 

-Ứng dụng công nghệ blockchain trong truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Ứng dụng truy xuất nguồn gốc mang lại các lợi ích như tuân thủ các quy định mang tính toàn cầu; quảng bá công ty hướng đến sự bền vững, minh bạch, đáp ứng yêu cầu khách hàng; sử dụng công cụ hỗ trợ hiệu quả chống khủng bố sinh học; trả lời nhanh và tin cậy trong trường hợp có vấn đề liên quan đến sự an toàn và thu hồi sản phẩm; đáp ứng yêu cầu của đối tác, cả thượng nguồn và hạ nguồn.

 

-Xây dựng chuỗi cung ứng cho một số sản phẩm nông nghiệp trong yếu. Chuỗi cung ứng có lợi điểm là kết hợp được ưu thế và sở trường của các nhân tố tham gia trong chuỗi; chia sẻ được trách nhiệm, rủi ro và quyền lợi của những thành viên tham gia trong chuỗi; nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả trong việc giới thiệu sản phẩm và năng lực cung ứng; tạo sự an tâm cho các nhà phân phối cũng như người tiêu dung đối với các sản phẩm của chuỗi. Do đó, cần ứng dụng platform để nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh các loại vật nuôi có giá trị cao như bò sữa, bò thịt…
 

-Ứng dụng ICT (Information Communication Technology – công nghệ thông tin và truyền thông): sử dụng các phần mềm quản lý hệ thống tưới, quản lý đồng ruộng kết nối với điện thoại và mạng vi tính, các thiết bị cảm ứng và phần mềm điều khiển tự động từ xa giúp theo dõi việc vận hành nhà màng cũng như sản xuất ngoài đồng ruộng, trang trại. Thông qua các phần mềm giúp chúng ta nhận biết các chỉ tiêu cần thiết cho cây trồng, vật nuôi có tối ưu chưa và điều chỉnh các chỉ tiêu nào và các hoạt động này được điều khiển thông qua các thiết bị thông minh

 

-Ứng dụng quản lý đất canh tác trên bản đồ số GIS: hệ thống dựa trên cơ sở dữ liệu đã được phân tích đối với từng loại cây trồng, vật nuôi, mùa vụ, các thay đổi của thời tiết, kết hợp với các tính toán về chi phí, doanh thu dự kiến để từ đó đưa  các lựa chọn và giải pháp bố trí sản xuất, canh tác tối ưu trên khu đất, tính toán được lợi nhuận dự kiến cho từng phương án tổ chức sản xuất

 

-Ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp với bón phân; ứng dụng đèn LED trong trồng trọt để ươm tạo cây giống sạch bệnh, sản xuất các loại cây độc đáo, lạ có giá trị cao

 

-Xây dựng và thiết lập hệ thống thông tin thị trường (MIS – Market Information System): xem nó như là một phương tiện hữu hiệu để cải thiện hiệu quả của hệ thống marketing và nâng cao khả năng định giá một cách công bằng hợp lý của các tác nhân trong ngành hàng; giúp nông dân có khả năng lập các kế hoạch sản xuất để đáp  ứng nhu cầu thị trường; quyết định sản xuất vào những thời điểm có lợi nhất; quyết định xem thị trường mà họ sẽ mang sản phẩm đến bán và có khả năng đàm phán trực tiếp với các tác nhân khác trong hệ thống marketing. Việc phát triển hệ thống thông tin thị trường cũng mang lại những lợi ích thiết thực cho cả những người kinh doanh nông sản, giúp họ có thể chuyển sản phẩm từ nơi dư thừa sang những nơi thiếu hụt để có thể mang lại lợi nhuận cao nhất.

 

Cần tạo thế đột phá trong nông nghiệp thông qua các ứng dụng nông nghiệp thông minh (Smart Agri). Để làm được điều đó, rất cần có sự thay đổi tư duy về công nghệ, về quan điểm kinh doanh, chấp nhận đương đầu với các rủi ro, thách thức cũng như thích nghi với sự thay đổi trong các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các doanh nghiệp, hiệp hội, người sản xuất. Thể hiện trong việc tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất – kinh doanh cũng như cách thức triển khai những giải pháp, chính sách mang tính quyết liệt, mạnh mẽ, có ý nghĩa như những đòn bẩy khả thi, hiệu quả. Điều này sẽ tác động trong việc tạo nguồn cảm hứng cho các hoạt động đổi mới, sáng tạo trong nông nghiệp cũng như thúc đẩy hình thành càc vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, mang lại lợi ích thiết thực cho người sản xuất nông nghiệp và thúc đẩy lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.


Cần căn cứ vào kịch bản biến đổi khí hậu, xu hướng tiêu dùng, nhu cầu và cách tiếp cận thị trường trong và ngoài nước, cũng như căn cứ vào trình độ và tập quán sản xuất của người dân địa phương để đề xuất các giải pháp kỹ thuật cũng như giải quyết các bài toán cho nông sản một cách đồng bộ, tức giải quyết cả những vấn đề liên quan đến kỹ thuật sản xuất, tái cơ cấu cây trồng vật nuôi, đến công tác tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm như: việc chọn tạo giống chịu mặn, chịu được ngập úng, khô hạn thông qua việc chuyển đổi các cây trồng kém hiệu quả sang các loại cây trồng cạn, ngắn ngày như rau, màu; ứng dụng các biện pháp luân canh và xen canh hợp lý, hiệu quả; các giải pháp về thủy lợi; các giải pháp liên quan đến tổ chức sản xuất kinh doanh như thúc đẩy hình thành và phát triển các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới….


Vic phát trin ngành ng nghip bn vững sử dụng công ngh cao một trong những mục tiêu chính của Chính phủ. Thông qua vic tăng cường phát trin bn vững, Vit Nam có th duy trì ngành sn xut nông nghip không b tác động bi môi trường cũng như năng sut tim năng trong tương lai. Khi những bước tiến của Vit Nam đu hướng tới sự công nhận của quốc tế thì điu quan trọng là phi gii quyết những vn đ về môi trường và tính bn vng khi đây thường là yêu cu ca các nhà nhp khu cũng được đề cập trong các thỏa thun như Hip định thương mi tự do FTA.

 

TS Nguyễn Xuân Khoa
Sưu tầm và tổng hợp

 


Số lượt người xem: 184 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày