SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
6
8
0
0
8
4
Nghiên cứu - Trao đổi Thứ Hai, 04/03/2019, 15:35

CẦN NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ HÀNH ĐỘNG BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ – VẤN ĐỀ CẤP BÁCH CẦN QUAN TÂM

Bảo tồn động vật hoang dã (ĐVHD) là việc thực hành bảo vệ các loài động vật hoang dã và môi trường sống của chúng. Mục tiêu của bảo tồn động vật hoang dã là để đảm bảo rằng giới tự nhiên sẽ được bảo vệ để che chở cho các thế hệ tương lai và giúp loài người nhận ra tầm quan trọng của ĐVHD và môi trường hoang dã đối với con người và các loài khác nhau trên hành tinh này.

Nhiều quốc gia có các cơ quan chính phủ và các tổ chức, thiết chế dành riêng cho bảo tồn động vật hoang dã, để hỗ trợ thực hiện chính sách được thiết kế để bảo vệ ĐVHD. Nhiều tổ chức phi lợi nhuận độc lập cũng góp phần thúc đẩy việc bảo vệ ĐVHD. Ngày nay, bảo tồn ĐVHD đã trở thành một thực tế ngày càng quan trọng do những tác động tiêu cực của các hoạt động của con người đối với ĐVHD.

Các nỗ lực nhằm tăng cường bảo vệ những loài quan trọng như tê giác, voi, hổ, tê tê, ngoài việc đóng góp trực tiếp cho hoạt động bảo tồn các loài động vật này còn mang ý nghĩa biểu tượng, tạo động lực cho việc bảo tồn tất cả các loài ĐVHD khác, góp phần ngăn chặn các loại thảm họa thiên nhiên, duy trì các dịch vụ sinh thái quan trọng đối với đời sống và sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng người dân, địa phương, quốc gia và quốc tế.

ĐVHD là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự cân bằng sinh thái, bảo đảm môi trường sống trong lành cho con người. Vì vậy, tất cả mội quốc gia, mọi người phải có trách nhiệm bảo vệ ĐVHD, tạo môi trường sống cho các loài động vật này được bảo tồn và phát triển.

 

Ước tính có khoảng 1.556 loài được xác định là có nguy cơ tuyệt chủng hoặc gần tuyệt chủng và cần được bảo vệ. Các khu rừng nhiệt đới – nơi trú ẩn của một nửa số sinh vật hiện tồn tại trên trái đất cũng đang bị thu hẹp hàng trăm nghìn ha mỗi năm. Vô số loài đã biến mất khi môi trường sống của chúng bị phá hủy. Việc bảo tồn sự đa dạng của các loài động thực vật trong tự nhiên đang là vấn đề cấp bách. Sự tuyệt chủng của các loài ĐVHD không phải đơn thuần do môi trường sống bị mất mà là chính bàn tay của con người gây trực tiếp gây ra. Các hành động săn bắn, bẫy thú đã làm số lượng ĐVHD giảm xuống đến tốc độ chóng mặt.

 

Việc tuyên truyền bảo vệ ĐVHD ngày càng được chú trọng, Bảo vệ ĐVHD từ những việc nhỏ nhất như tuyên truyền ý thức cho người dân, khẩu hiệu là Bảo vệ ĐVHD chính là bảo vệ cuộc sống của bạn. Nâng cao nhận thức và hiểu biết của con người về môi trường tự nhiên cũng là việc làm thiết thực. Các khóa học đạo đức cho học sinh, chương trình đào tạo về sinh thái học và quản lý đa dạng sinh học sẽ khiến xã hội nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của môi trường, ngăn chặn hành vi trái pháp luật. Kết nối cộng đồng cũng là cách hữu hiệu nhất để bảo vệ các loài động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng. Tiếng nói của một người sẽ không có tác dụng nhưng khi toàn bộ cộng đồng lên tiếng lại hoàn toàn khác.

Điều 190 của Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi có qui định như sau:
       1. Người nào săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

        2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

       a) Có tổ chức;

       b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

       c) Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm;

       d) Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm;

      đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

      3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

 

Ở Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và Bạc Liêu nói riêng là vùng  đồng bằng sông nước, do đó ĐVHD hiện nay ngoài thiên nhiên còn rất ít chủ yếu các loại: chim hoang dã, rùa, trăn, rắn, cá sấu, ba ba, heo rừng, chim yến…Đặc biệt nhiều tỉnh có vườn chim, có các khu bảo tồn thiên nhiên như: Chàm Chim – Đồng Tháp, Vườn Chim Bạc Liêu  và nhiều vườn chim, vườn cò do tư nhân quản lý vv..

Khu bảo tồn hệ sinh thái vườn chim Bạc Liêu, trước kia khu bảo tồn này là thảm rừng ngập mặn ven biển với hệ sinh thái ngập mặn tự nhiên rất phong phú và đa dạng. Với hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên trên diện tích khoảng 385ha, trong đó có 19ha rừng nguyên sinh, khu bảo tồn có 104 loài thực vật thuộc 50 giống, 46 bộ. Tầng cao của rừng là Trà Là (chiếm 50%) , Giá (30%) còn lại là Cóc, Lâm Vồ. Thảm thực vật thấp là cỏ và các loài giây leo. Đây cũng là nơi cư trú của khoảng 46 loài chim, trong đó có nhiều loài quý hiếm như Giang Sen, Điên Điển, Cò Ruồi…; 109 loài thực vật thuộc 90 chi của 46 họ; 150 loài động vật, trong đó có 58 loài cá, 7 loài ếch nhái, 10 loài có vú, 8 loài bò sát và một số động vật khác.Vườn chim Bạc Liêu là nơi làm tổ quan trọng của nhiều loài chim nước, điển hình là các loài le le, cò, diệc, vạc, còng cọc, quắm đen và nhiều loài khác. Các loài chim thường tụ tập nhiều vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Chúng làm tổ trên cây đến khoảng tháng 1 rồi bay đi nơi khác và quay trở về đây vào tháng 5 hoặc tháng 6.

 

VƯỜN CHIM BẠC LIÊU       (ảnh Tư liệu)

Việc nhân nuôi, chế biến, buôn bán các loài ĐVHD (hợp pháp lẫn bất hợp pháp) cung ứng cho thị trường không ngừng gia tăng trong bối cảnh nền kinh tế phát triển và sự giao thương giữa các quốc gia ngày càng tăng. Có thể nói, sản phẩm từ các loài ĐVHD được nhân nuôi sẽ dần thay thế các sinh vật từ tự nhiên ngày càng suy kiệt. Đây là thế mạnh của các nước giàu tài nguyên đa dạng sinh học, trong đó có Việt Nam.

 

Đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội về sản phẩm từ ĐVHD, hoạt động nhân nuôi các loài hoang dã tại Việt Nam cũng được phát triển mạnh cả về số lượng và số loài. Phần lớn các sinh vật từ ĐVHD trên thị trường hiện nay đều có nguồn gốc từ gây nuôi và đang dần thay thế những sinh vật có nguồn gốc từ tự nhiên, góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế ở địa phương, tác động tích cực tới công tác bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên đa dạng sinh học và môi trường. Đó là nuôi hươu sao ở Quỳnh Lưu, Hương Sơn (Nghệ Tĩnh), nuôi nai (ở Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng), nuôi khỉ (ở đảo Rều, Quảng Ninh), làng nghề cá sấu ở TPHCM, nuôi rắn (ở Vĩnh Sơn, Phú Thọ), nuôi ếch, ba ba ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng, nuôi voi ở Bản Đôn..


                      MÔ HÌNH CHĂN NUÔI HEO RỪNG         (ảnh Tư liệu

Đây là những kinh nghiệm làm cơ sở cho việc tổ chức hướng dẫn chăn nuôi một số loài ĐVHD quy mô hàng hóa lớn, có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn cao. Để việc nhân nuôi các loài hoang dã một cách bền vững, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên có liên quan, trong đó đặc biệt quan trọng là giữa các cơ sở nuôi với cơ quan quản lý, các nhà khoa học, chính quyền các cấp, các cơ quan truyền thông, các tổ chức xã hội, các tổ chức về bảo tồn quốc tế và toàn thể cộng đồng.

Phương pháp nuôi đơn giản, chủ yếu là nuôi nhốt, chưa phù hợp với điều kiện sinh thái nhiệt đới, chưa chủ động nguồn thức ăn cho động vật nuôi, chưa có biện pháp phòng và trị  bệnh, chưa kết hợp với kỹ thuật công nghệ sinh học trong nhân nuôi, sinh sản cũng như vấn đề bảo vệ môi trường và an toàn trong nhân nuôi, ảnh hưởng đến quá trình phát triển sinh lý, sinh thái của vật nuôi. Nhà khoa học còn đứng ngoài khá nhiều thay vì cùng vào cuộc.

Nuôi ĐVHD ở Việt Nam còn mang tính phong trào, mấy năm trước rộ lên phong trào nuôi heo rừng, nay là phong trào nuôi nhím. Thu nhập những người khai phá bao giờ cũng rất cao, lên đến hàng tỷ đồng/năm, nhưng chủ yếu nhờ bán con giống. Sự thiếu hiểu biết về kiến thức nền như sinh học, sinh thái học, kỹ thuật nuôi, biện pháp phòng trị bệnh, kể cả những quy định của pháp luật khiến người nuôi thường gặp rủi ro.

Việc tổ chức gây nuôi một số loài ĐVHD có giá trị bảo tồn và các loài có giá trị kinh tế đang bị giảm sút về số lượng ở Việt Nam là việc làm cần thiết, dựa trên nguyên tắc nhân nuôi ĐVHD gắn với việc bảo tồn nguồn gen, không làm suy giảm số lượng các loài ĐVHD có giá trị kinh tế, các loài đang bị đe dọa, mà còn tạo điều kiện cho số lượng của các loài ĐVHD phát triển qua nhiều thế hệ để phục hồi lại số lượng một số loài hiện nay có nguy cơ tuyệt chủng.Không ít người đã lợi dụng việc gây nuôi ĐVHD nhằm hợp thức hóa hành động săn bắt thú rừng. Mỗi năm các cơ quan chức năng bắt, xử lý khoảng 1.300 vụ vi phạm, tịch thu trên 20.000 cá thể ĐVHD các loại làm cho số lượng nhiều loài ĐVHD quý hiếm giảm sút nghiêm trọng như hổ, gấu... Một số loài không còn tìm thấy trong thiên nhiên như heo vòi, tê giác hai sừng, bò xám...

Vấn đề này cần được đặt ra dưới nhiều hình thức như nhân nuôi ở các trạm cứu hộ động vật, các trang trại, hộ gia đình, khu du lịch sinh thái... Nhờ đó, nguồn tài nguyên ĐVHD mới có khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội và phục vụ việc bảo tồn quỹ gen hoang dã.

Theo tiến sĩ Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT, việc gây nuôi, bảo tồn ĐVHD không phải là nghề bình thường mà phải tuân thủ những quy định của pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế Cites. Cần nhìn nhận việc gây nuôi ĐVHD và nghiên cứu sâu hơn, cũng như hoàn thiện các văn bản pháp luật. Tăng cường chế tài người nuôi ĐVHD cố tình vi phạm, ủng hộ những người, tổ chức gây nuôi vì bảo tồn.

Theo tôi cần phải tiếp tục làm tốt hơn nữa một số giải pháp như:

Một là, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn ĐVHD nói chung và Luật Chăn nuôi sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2020, trong đó có việc quy định về quản lý và gây, nuôi ĐVHD như: cá sấu, trăn, rắn, gấu, hổ và chim yến vv…

Hai là, đưa một số ĐVHD đã và đang được nuôi phổ biến như: cá sấu, ba ba, trăn, rắn, chim yến… vào danh mục vật nuôi chính để ngành nông nghiệp quản lý, hướng dẫn kỹ thuật nuôi, dạy nghề, phòng chống dịch bệnh để tránh tình trạng chăn nuôi tự phát và buôn bán qua đường tiểu ngạch, gây nhiều rủi ro và thiệt hại cho người chăn nuôi;

Ba là, có chính sách cho vay vốn đối với những trang trại gây nuôi ĐVHD để khuyến khích bảo tồn và nhân giống những ĐVHD quí hiếm, nhất là bảo tồn các vườn chim hoang dã do tư nhân quản lý;

Bốn là, khuyến khích đầu tư công nghệ chế biến sản phẩm từ ĐVHD để nâng cao hiệu quả kinh tế như như thuộc da: trăn, cá sấu vv…

Năm là, gắn việc bảo tồn ĐVHD với du lịch sinh thái để khuyến khích duy trì. Bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó có việc bảo tồn ĐVHD.

Nếu thực  hiện đồng bộ một số giải pháp trên chắc chắn công tác bảo tồn ĐVHD sẽ đạt kết quả như mong muốn.

 

----------------------------------------------------------------------------------------

                                                                     TS Nguyễn Xuân Khoa

                                                       PCT Liên hiệp các hội KHKT Bạc Liêu

 

 

 

 


Số lượt người xem: 98 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày