SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
6
8
0
1
4
2
Nghiên cứu - Trao đổi Thứ Hai, 11/03/2019, 15:30

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VEN BIỂN VÀ BIỂN Ở BẠC LIÊU

Bạc Liêu là tỉnh gần cuối cực nam của Tổ quốc, với bờ biển dài 56km, 4 cửa biển là Gành Hào, Chùa Phật, Cái Cùng và Nhà Mát đã mang lại nhiều nguồn lợi quí giá. So với các tỉnh thành cả nước được xếp vào tỉnh giàu tiềm năng phát triển nuôi biển. Ngòai nguồn con giống thủy sản cho giá trị kinh tế cao như nghêu, sò, cua biển, cá kèo…. Cùng với nguồn lợi thủy sản gần 4.000ha rừng phòng hộ nằm trải dài ven bờ biển rất thích hợp cho việc nuôi trồng các lòai thủy sản dưới tán rừng. Hệ thống rừng ngập mặn và bãi bồi vưon ra biển mỗi năm từ 75- 800m đã góp phần làm phong phú thêm các nguồn lợi gần bờ gắn với nhiều mô hình phát triển dưới tán rừng như tôm - cua - cá - rừng, tôm- cua, cái kèo, sò huyết, ốc len…  Bạc Liêu đã và đang hình thành những mô hình nuôi trồng đột phá đứng nhất, nhì cả nước. Tính đến thời điểm hiện nay diện tích canh tác thủy sản 136.498 ha, đạt 100,12% KH và 100,33% CK; diện tích NTTS 139.587 ha (nuôi tôm thẻ siêu thâm canh 274 ha; nuôi tôm sú, tôm thẻ thâm canh và bán thâm canh (TC&BTC) 21.714 ha; quảng canh cải tiến (QCCT) chuyên tôm 420 ha; nuôi thủy sản trên đất tôm - lúa 33.747 ha; QCCT kết hợp 79.164 ha; nuôi cua, cá và thủy sản khác 4.268 ha.

 

Tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XII) vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để từng bước đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, dựa vào biển và hướng ra biển. Nghị quyết đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế biển và thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố ven biển ngày càng cao so với mức tăng trưởng chung của cả nước. Để phát huy các tiềm năng, thế mạnh trong phát triển kinh tế biển, kết luận số 67/KL-TU của Bí thư Tỉnh ủy về tiếp tục phát triển kinh tế biển và vùng phía Nam Quốc lộ (QL) 1A tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025. Đây được xem là động lực để Bạc Liêu phát huy thế mạnh này và đưa kinh tế biển trở thành “Trụ cột thứ 5” trong tăng trưởng kinh tế.  Bạc Liêu đã đề ra mục tiêu chung là: Tiếp tục thực hiện quy hoạch phát triển toàn diện, đồng bộ vùng phía Nam QL 1A. Chú trọng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững, hiệu quả. Xây dựng khu, vùng nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao, nuôi siêu thâm canh theo quy hoạch. Nhiều mô hình nuôi trồng, khai thác đánh băt thủy hải sản đã có bước phát triển đáng kể, mang tính đột phá, phát huy tiềm năng, thế mạnh từ biển cụ thể:

1.Mô hình nuôi tôm:

+ Mô hình nuôi tôm thẻ siêu thâm canh: Tổng diện tích 1.738,2ha, với 1.460ao/hồ nuôi (1.269 ao lót bạt và 191 hồ tròn) trên tổng diện tích mặt nước 174,91ha, Trong đó:

- Mô hình nuôi tôm siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao: Toàn tỉnh có 10 Công ty, đơn vị: Công ty Cổ phần Việt Úc, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam, Công ty TNHH MTV Hải Nguyên, Công ty TNHHSX và Thương mại Trúc Anh, Công ty TNHH MTV Huy Long An - Bạc Liêu,... áp dụng công nghệ nhà màng của Israel; công nghệ cho ăn tự động của Úc; công nghệ sinh học xác định tình trạng sức khỏe của tôm,...với tổng diện tích 810,50 ha; thả nuôi tôm 100,54 ha, thiệt hại 23 ha, thu hoạch 77,54 ha; sản lượng 1.962 tấn. Trong đó:

 *Nuôi trên bể tròn nổi: Tổng doanh thu 5.736 triệu đồng/ha/năm, tổng chi phí 4.916 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận bình quân 820 triệu đồng/ha/năm, giá thành sản xuất bình quân 90 ngàn đồng/kg cỡ tôm 50 con/kg.

* Nuôi trên ao đất trải bạt: Tổng doanh thu 731 triệu đồng/ha/năm, tổng chi phí 557 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận bình quân 174 triệu đồng/ha/năm, giá thành sản xuất bình quân 80 ngàn đồng/kg cỡ tôm 50 con/kg;

Ảnh: Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh trên bể tròn nổi tại công ty TNHH MTV Long Mạnh

 

* Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh 2 giai đoạn: tổng doanh thu 1.780 triệu đồng/ha/năm, tổng chi phí 1.322 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận 458 triệu đồng/ha/năm, giá thành sản xuất bình quân 78 ngàn đồng/kg cỡ tôm 50 con/kg); mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh, bán thâm canh (tổng doanh thu 1.250 triệu đồng/ha/năm, tổng chi phí 952 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận bình quân 298 triệu đồng/ha/năm, giá thành sản xuất bình quân 80 ngàn đồng/kg cỡ tôm 50 con/kg;

+ Mô hình nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh: Diện tích nuôi trên toàn tỉnh là 11.674ha. Tổng doanh thu 525 triệu đồng/ha/năm, tổng chi phí 398 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận bình quân 127 triệu đồng/ha/năm, giá thành sản xuất bình quân 135 ngàn đồng/kg; tỷ lệ có lãi 40%, hòa vốn 20%, lỗ vốn 40% tỷ lệ có lãi 20%, hòa vốn 35%, lỗ vốn 45%;

+ Mô hình nuôi tôm QCCT kết hợp: Đây là mô hình phát triển tương đối bền vững ở cả 2 vùng Nam và Bắc Quốc lộ 1A. Tổng doanh thu 105 triệu đồng/ha/năm, tổng chi phí 60 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận bình quân 45 triệu đồng/ha/năm, giá thành sản xuất tôm bình quân 50 ngàn đồng/kg,  tỷ lệ có lãi 70%, hòa vốn 30%.

 

2.Mô hình nuôi cá kèo thâm canh: Diện tích thả nuôi 154ha,tổng doanh thu 450 triệu đồng/ha/năm, tổng chi phí 400 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận bình quân 50 triệu đồng/ha/năm, tỷ lệ có lãi 30%, hòa vốn 20%, lỗ vốn 50%.

Ảnh: Mô hình nuôi cá kèo thâm canh tại xã Vĩnh Hậu A huyện Hòa Bình

 

3. Mô hình sản xuất muối: Diện tích sản xuất muối 1.675 ha. Trong đó muối trải bạt 82,5 ha; sản lượng thu hoạch 49.481 tấn ( muối trắng 17.197 tấn. Giá muối trắng 1.200 - 1.400 đồng/kg; giá muối đen 950 – 1.100 đồng/kg; lượng muối tồn trong dân 3.360 tấn.

4. Mô hình nuôi Artemia: Diện tích thả giống Artemia 347 ha, thu hoạch 347 ha, sản lượng trứng 12.578 kg, năng suất 36,24 kg/ha; giá bán trứng Artemia trứng tươi 1,0 – 1,2 triệu đồng/kg, lợi nhuận từ 15 – 20 triệu đồng/ha.

5. Mô hình Khai thác, đánh bắt thủy, hải sản: Toàn tỉnh 1.141 chiếc tàu cá đăng ký, đăng kiểm. Tổng công suất 214.206 CV; tổng số thuyền viên 6.799 người), trong đó tàu cá đánh bắt xa bờ 565 chiếc. Sản lượng khai thác biển và nội địa 114.055 tấn (trong đó tôm 12.642 tấn; cá và thủy sản khác 101.413 tấn).

+ Nghề lưới kéo đôi (công suất > 250 CV, có 142 chiếc), doanh thu 2.500 - 5.200 triệu đồng/năm (hoạt động 7 chuyến biển/năm), lãi 400 - 600 triệu đồng/năm (chiếm khoảng 30%), lãi 100 - 300 triệu đồng/năm (chiếm khoảng 40%), hòa vốn khoảng 10%, số còn lại lỗ vốn.

+ Nghề lưới kéo đơn (công suất > 90 CV, có  96 chiếc), doanh thu 1.800 - 3.000 triệu đồng/năm (hoạt động 5 chuyến biển/năm), lãi 300 - 550 triệu đồng/năm lãi 300 - 550 triệu đồng/năm (chiếm khoảng 30%), lãi ít và hòa vốn khoảng 40%, số còn lại lỗ vốn;

+ Nghề lưới rê cá (công suất > 90 CV, có khoảng 200 chiếc), doanh thu 2.000 - 3.000 triệu đồng/năm (hoạt động 4 chuyến biển/năm), lãi 300 - 600 triệu đồng/năm (chiếm khoảng 40%), hòa vốn khoảng 40%, số còn lại lỗ vốn.

+ Nghề lưới rê xù (công suất > 90 CV, có khoảng 30 chiếc), doanh thu 1.800 - 3.500 triệu/năm (hoạt động 10 chuyến biển/năm), lãi 600 - 1.000 triệu đồng/năm(chiếm khoảng 70%), lãi ít và hòa vốn (chiếm khoảng 20%), số còn lại lỗ vốn.

+Nghề câu mực vàng (công suất > 90 CV, có 34 chiếc), doanh thu 2.000 - 2.700 triệu đồng/năm (hoạt động 7 chuyến biển/năm), do khai thác ở vùng biển xa tốn nhiều chi phí nên lãi từ 500 - 800 triệu đồng/năm.

+Nghề lưới rê (công suất  < 90 CV, có khoảng 400 chiếc) doanh thu 300 - 800 triệu đồng/năm (hoạt động 24 chuyến biển/năm), lãi 150 - 400 triệu đồng/năm do khai thác ở vùng biển xa tốn nhiều chi phí nên lãi từ 500 - 800 triệu đồng/năm (chiếm khoảng 60%), số còn lại hòa đến lỗ vốn.

+ Nghề te ruốc (công suất < 90 CV, có khoảng 100 chiếc, tùy theo mùa vụ), doanh thu 100 - 300 triệu đồng/năm (hoạt động 80 ngày/năm), lãi 50 - 150 triệu đồng/năm (chiếm khoảng 60%), số còn lại lãi ít.

 

 ( Nguồn: Báo cáo tổng kết ngành Nông nghiệp và PTNT 2018)

Bài và ảnh: Hoàng Trang

 

 

 


Số lượt người xem: 115 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày