SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
7
1
6
9
5
7
Hoạt động Hội thành viên và Tổ chức liên kết Thứ Ba, 12/08/2014, 16:25

Nhiệm vụ của Khuyến nông trong thực hiện Xây dựng nông thôn mới

Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước như chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra thì việc quan tâm chỉ đạo phát triển Tam Nông: Nông dân – Nông nghiệp và Nông thôn, đặc biệt xây dựng nông thôn mới là vấn đề mấu chốt. Bởi vì 80% dân số nước ta là ở nông thôn, 70% lao động là nông nghiệp. Mục đích cuối cùng của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng Tổ quốc Việt Nam với một chế độ tốt đẹp: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, vai trò của khoa học công nghệ nói chung và của khuyến nông nói riêng rất quan trọng; vì nó góp phần nâng cao giá trị của hàng hóa nông sản, nâng cao thu nhập cho người sản xuất.

Để hoàn thành trọng trách của mình hệ thống tổ chức khuyến nông cần phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể và địa phương làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

+ Truớc hết là công tác tuyên truyền:

- Cán bộ khuyến nông các cấp phải nắm vững 19 tiêu chí xây dựng nông thốn mới và tuyên truyền cho bà con nông dân nắm vững để qua đó hưởng ứng thực hiện tốt các tiêu chí mà Chính phủ  đã đề ra.

- Hướng dẫn nhân dân nắm vững chủ trương hội nhập nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng, thấy rõ  trách nhiệm của mình, muốn phát triển và làm giàu chính đáng thì phải tự đổi mới; đổi mới cả trong nhận thức, cách nghĩ: từ bỏ những thói quen ích kỷ, tự ty, phong kiến, bảo thủ ở một số người. Đổi mới trong cách làm: nhanh chóng thay đổi tập quán làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, cạnh tranh thiếu lành mạnh, làm ăn gian dối; phải lấy chữ tín làm đầu, nhất là trong cơ chế thị trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Tiếp tục tuyên truyền, vận động nông dân phát triển kinh tế hợp tác, chỉ có liên kết trong sản xuất, kinh doanh, làm ăn lớn mới tồn tại và phát triển.

- Tuyên truyền cho bà con nông dân nắm vững qui hoạch vùng sản xuất nông sản hàng hớa tập trung, qua đó tự giác tuân thủ qui hoạch;  khuyến nông viên cần tiếp tục phối hợp cùng các ngành, các cấp tuyên truyền sâu rộng cho người sản xuất biết và hiểu rõ những thời cơ, những thuận lợi, cũng như những khó khăn, thách thức khi xây dựng nông thôn mới.

+Về tổ chức lại sản xuất:

- Vận động những hộ có kinh nghiệm trong quản lý, điều hành, có khả năng huy động vốn nên mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh; phát triển theo qui mô trang trại hay gia trại, theo hướng an toàn sinh học, sản xuất nông sản sạch.  Chọn những đối tượng cây trồng, vật nuôi  hay những mặt hàng nông sản mà tỉnh có lợi thế cạnh tranh và thị trường yêu cầu; chọn giống có chất lượng cao; không quá coi trọng năng suất, mà phải coi trọng cả về chất lượng sản phẩm, độ an toàn, giá thành và hiệu quả của sản xuất, cũng như tính bền vững của mô hình. Tổ chức sản xuất cây, con giống tại cộng đồng, sử dụng giống chất luợng cao. Tổ chức các hoạt động dịch vụ vật tư đầu vào, áp dụng cơ giới hóa, thủy lợi hóa và công nghệ sau thu hoạch; tổ chức phòng chống dich bệnh cho cây trồng và vật nuôi một cách hiệu quả.


Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tập huấn cho nông dân xã Minh Diệu

- Đẩy mạnh việc sản xuất theo hướng công nghệ cao như: cơ giới hóa, điện khí hóa trong sản xuất nông nghiệp;  phát triển máy nông nghiệp nói chung, máy gặt  đập liên hợp nói riêng, lò sấy lúa, trạm bơm điện công suất nhỏ, các thiết bị tưới tự động, các loại máy chế biến thức ăn chăn nuôi công suất nhỏ, áp dụng chế phẩm EM trong xử lý chất thải chăn nuôi, xử lý rác thải, hay xử lý môi trường  nước trong nuôi trồng thủy sản vv…

+ Về  việc gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm:

- Tổ chức thu gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, để nâng cao giá trị sản phẩm. Quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng thương hiệu hàng hóa đặc thù của tỉnh như: gạo hữu cơ( gạo  sản xuất từ mô hình Lúa – Cá, Lúa – Tôm, không sử dụng phân và  thuốc hóa học), hạt ngò rí, muối chất lượng cao, củ cải muối vv…

- Hướng dẫn cho người sản xuất chọn lựa phương án sản xuất những mặt hàng có chất lượng cao, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, áp dụng các biện pháp giảm giá thành sản xuất; liên kết với nhau trong sản xuất, kinh doanh với việc kết hợp" Bốn nhà", giữ chữ tín trong quan hệ giao dịch...

Tiếp tục triển khai thực hiện qui hoạch các vùng thủy lợi khép kín để giữ nước ngọt cuối mùa mưa phục vụ sản xuất trong mùa khô và các tiểu vùng sản xuất nông sản hàng hóa chất lượng cao, nhất là vùng sản xuất lúa chất lượng cao, vùng chuyên trồng màu, vùng lúa – cá… gắn với công nghiệp chế biến, qui hoạch khôi phục và phát triển nghề thủ công  mỹ nghệ, nghề truyền thống ở nông thôn. Hoàn thiện hệ thống thủy lợi, thủy nông nội đồng gắn với giao thông nông thôn ở những nơi có tính chất bức xúc; hệ thống đê bao, cống bọng, đảm bảo chấm dứt hiện tượng xâm nhập mặn vào vùng ngọt ổn định. Đồng thời  cũng cần phải chú trọng hơn đến việc thiết kế mặt bằng đồng ruộng; vừa đảm bảo sản xuất trước mắt và lâu dài, nhất là việc đưa cơ giới hóa vào khâu gieo sạ và thu hoạch lúa; vì hiện nay lao động nông nghiệp đã và đang chuyển dần vào làm việc tại các khu công nghiệp.

+ Công tác đào tạo nghề và xóa đói giảm nghèo.

Đến nay trình độ và kỹ năng sản xuất của người sản xuất đã được nâng cao một bước, song không đồng đều giữa các hộ, các địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc, các xã vùng sâu giao thông đường bộ còn trở ngại. Hơn nữa do đòi hỏi của thị trường nông sản trong nước và quốc tế, nhất là Việt Nam đã tham gia tổ chức thương mại thế giới, nên việc đào tạo nghề cho người sản xuất theo hướng chuyên sâu, để sản xuất ra sản phẩm tập trung theo mùa vụ với số lượng lớn, an toàn, độ đồng đều cao, giá thành hợp lý, mẫu mã sản phẩm bền, đẹp và phải có thương hiệu. Trước thực trạng nông, ngư dân hiện nay đang ngày càng phân hóa, tỷ lệ hộ giàu ngày càng tăng nhanh, nhưng số hộ nghèo cũng còn không ít, các ngành chức năng cần phân loại ra làm  nhiều đối tượng, tìm hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến nghèo khó, qua đó phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành chức năng theo chuyên môn, phân công, phân cấp cụ thể rõ ràng; kết hợp giữa đào tạo nghề với giải quyết việc làm tùy theo từng đối tượng. Kết hợp giúp đỡ bằng cả kỹ thuật, tiền vốn hay việc làm; động viên người giàu giúp đỡ người nghèo, đảng viên giúp đỡ dân nghèo theo kiểu” Vết dầu loang”, mỗi năm một ít, từ từ sẽ hết hộ nghèo vv...


Mô hình trồng cỏ nuôi trâu hộ Ông Trần Hoàng Mai, ấp Trà co, xã Minh Diệu

+ Tiếp tục đẩy mạnh việc xã hội hóa công tác khuyến nông.

Kết hợp chặt chẽ hơn nữa với các Viện, các Trường  Đại học, các doanh nghiệp, các cơ quan thông tin đại chúng, các ban, ngành, đoàn thể các cấp, các tổ chức kinh tế hợp tác, các tổ chức khuyến nông - khuyến ngư tự nguyện, các tổ chức tín dụng, các tổ chức khoa học phi chính phủ của nước ngoài (thông qua các Viện, Trường) để thực hiện một cách có hiệu quả việc xã hội hóa công tác khuyến nông - khuyến ngư.

Đẩy mạnh công tác tư vấn và dịch vụ khuyến nông - khuyến ngư, đặc biệt là tư vấn về kinh tế hợp tác và thị trường. Tư vấn về kỹ thuật nông nghiệp qua thư từ, trả lời thư qua báo, đài hoặc gặp trực tiếp người sản xuất qua công tác tiếp dân tại trụ sở để giải quyết kịp thời các vướng mắc trong sản xuất. Tổ chức một số dịch vụ cung ứng giống cây, con khi nông dân, ngư dân yêu cầu.

+ Đẩy mạnh mối liến kết” Bốn nhà”

 Nhà nước cần tiếp tục cụ thể hóa một số chủ trương, chính sách về  đất đai, về kinh tế hợp tác, nhất là Luật  HTX vừa được Quốc Hội sửa đổi bổ sung, khuyến khích hỗ trợ đăng ký thương hiệu một số mặt hàng nông sản, hỗ trợ một số doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu nông sản hàng hóa chủ lực của tỉnh khi gặp rủi ro do biến động quá nhanh của giá cả thị tường, hỗ trợ đào tạo nghề cho nông dân, ngư dân một cách bài bản. Hỗ trợ việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.

+ Đẩy mạnh kinh tế hộ gia đình, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

Muốn nâng cao hiêu quả sản xuất nông nghiệp nói chung, kinh tế hộ nói riêng phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp một cách hợp lý đối với từng gia đình, từng vùng; khai thác một cách có hiệu quả cao nhất các nguồn lực như: đất đai, mặt nước, lao động, kỹ thuật hay công nghệ, nguồn vốn, thị trường và phải chú ý đến tính bền vững của mô hình sản xuất.


Mô hình nuôi gà Tàu lai và nuôi cá rô phi hộ ông Liêm xã Minh Diệu

Trước hết là phải tự giác tuân thủ qui hoạch các tiểu vùng sản xuất do Nhà nước đề ra, để khai thác có hiệu quả hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn một cách có hiệu quả và tránh rủi ro như bị nhiễm mặn nguồn nước tưới vào đầu mùa khô, bị hạn hán, úng lụt cục bộ hay sâu bệnh trên cây trồng, dịch bệnh đối với vật nuôi và gây hại trên diện rộng. Chẳng hạn sản xuất liên tục nhiều vụ lúa gối đầu nhau, thả giống tôm hay sạ lúa không đồng loạt, không theo lịch thời vụ khuyến cáo của càc ngành chuyên môn.

Tùy điều kiện đất đai, nguồn nước, lao động, tiềm lực về  nguồn vốn của từng gia đình và điều kiện chế biến và thị trường tại địa phương mà xác định quy mô, cơ cấu cây trồng hay vật nuôi một cách phù hợp. Coi trọng đồng thời cả  lợi ích trước mắt và lâu dài.

Trong điều kiện hiện nay do thị trường một số loại hàng nông, thủy sản còn hạn hẹp, nên tổ chức sản xuất kinh doanh theo hướng đa cây, đa con, kinh doanh nhiều mặt hàng.

Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, chắc chắn  việc xây dựng nông thôn mới sẽ đạt được kết như mong muốn.

Thiết nghĩ đã đến lúc các cơ quan chuyên môn và người sản xuất, kể cả doanh nghiệp phải cùng đồng tâm hiệp lực, tự giác tuân thủ qui trình công nghệ theo tiêu chuẩn  GLOBAL GAP, phân công, phân cấp, phối hợp chặt chẽ hơn nữa  để hàng  Việt Nam chất lượng cao có thể cạnh tranh ngang bằng với các hàng hóa nông sản của các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Để hàng Việt Nam vươn cao, vươn xa xứng danh là hàng hóa của một đất nước anh hùng” Đánh giặc ngoại xâm giỏi và làm kinh tế cũng giỏi”.

TS. Nguyễn Xuân Khoa


Số lượt người xem: 6549 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày