SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
9
6
1
7
6
7
Văn hoá - Văn nghệ Thứ Hai, 24/02/2020, 09:30

ĐỒNG KHỞI NĂM 1960 TẠI BẠC LIÊU

Đầu năm 1960, địch tiếp tục thực hiện chính sách “tố cộng diệt cộng”, đẩy thanh niên cộng hòa hoạt động mạnh hơn, bắt dân làm xâu và đưa dân vào khu trù mật, một số xã địa chủ dẫn tề, lính đi thu tô nông dân.

 

Ảnh minh họa

Ngày 28/1 đến 10/2/1960, Tỉnh ủy họp quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng, Nghị quyết 4 của Xứ ủy, do đồng chí Trần Văn Bỉnh (Bảy Thạng) đại diện Liên Tỉnh ủy triển khai. Đối với cách mạng miền Nam, Nghị quyết 15 nêu rõ: “Đoàn kết toàn dân đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền Liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiên độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà.” “Phương thức đấu tranh là bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân.”

 

Dự kiến khả năng cách mạng, Nghị quyết nêu rõ: “Đế quốc Mĩ là tên đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh trường kì giữa ta và địch và thắng lợi cuối cùng cũng nhất định về ta. Chúng ta phải chuẩn bị chu đáo để chủ động trong mọi tình thế.”

 

Tỉnh ủy hạ quyết tâm biến tinh thần nội dung Nghị quyết Đảng thành hành động cách mạng của nhân dân trong tỉnh, nổi dậy phá kềm, giành quyền làm chủ nông thôn. Phương châm là: Dùng sức mạnh bạo lực chính trị của quần chúng, kết hợp với vũ trang nổi dậy, phối hợp cơ sở trong lòng địch giành thắng lợi.

 

Bước một: tạo thế, tạo lực, diệt ác phá kềm, xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang. Nhanh chóng thành lập các đội vũ trang huyện, xã để phối hợp phong trào chính trị tiến công địch. Phát huy thế mạnh, thuận lợi từng khu vực địa phương để tiến công địch, không chờ đợi.

 

Bước hai: đồng loạt nổi dậy tấn công địch, giải phóng nông thôn.

 

Tỉnh ủy chọn các xã Ninh Thạch Lợi, Vĩnh Lộc, Lộc Ninh (huyện Hồng Dân) làm điểm chỉ đạo của tỉnh.

 

Đơn vị vũ trang Đinh Tiên Hoàng của tỉnh được phổ biến nhanh tinh thần cơ bản của Nghị quyết 15 và phương án Đồng Khởi của tỉnh. Đơn vị xây dựng kế hoạch hành động, phối hợp các địa phương chuẩn bị cho cao trào đồng khởi. trước mắt, phối hợp một số xã ngăn chặn hành động cướp lúa mùa khô của địch.

 

Trung tuần tháng 2/1960, các Huyện, Thị ủy triển khai xong Nghị quyết 15 Trung ương, quyết tâm của Tỉnh ủy, xây dựng phương án của huyện thị, kế hoạch cụ thể từng xã, thị trấn. Kế hoạch đồng khởi ở xã, thị trấn gồm những công tác chính:

- Nắm phân loại các tổ chức phản động của địch, danh sách ác ôn phải xử trí (diệt), chuẩn bị bản án, nắm chắc quy luật ăn ở, đi lại, có lệnh tổ chức diệt ngay.

- Công tác binh vận xây dựng gia đình binh sĩ tề ngụy vận động.

chồng con em diệt ác lập công, mang súng trở về với nhân dân. Sử dụng nội tuyến làm nội ứng diệt đồn, phá tề.

 

Phát động quần chúng nhận rõ thời cơ đã đến, tất cả hãy vũ trang gậy gộc, giáo mác xuống đường truy bắt ác ôn, giải tán các tổ chức phản động của địch, đốt phá trụ sở tề, phòng thông tin; thiêu hủy các loại băng, cờ, tranh ảnh của chế độ Diệm.

 

Về tổ chức lực lượng, chi bộ Đảng, chi đoàn thanh niên, lực lượng cốt cán chia làm 2 bộ phận: bộ phận lộ mặt (đối địch) được trang bị vũ khí, hoạt động công khai, diệt ác, đánh địch phản kích. Bộ phận hợp pháp (bí mật) hoạt động hình thức bí mật theo hệ thống rễ chuỗi, đảm bảo thế hợp pháp tồn tại trong tình huống, ta địch tranh chấp kéo dài.

 

Vũ khí trang bị cho lực lượng xã, ấp phổ biến là mã tấu do địa phương tự tạo (mã tấu rèn từ cây phảng phát cỏ cải tạo lại).

 

Tổng kết cao trào đồng khởi 1960, toàn tỉnh diệt bức hàng, bức rút trên 50 đồn bót, thu hàng ngàn súng, giải phóng hoàn toàn 13 xã, nhiều xã giải phóng cơ bản, chiếm hơn 50% dân số toàn tỉnh. Khu vực Bạc Liêu (các huyện Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Vĩnh Châu, thị xã Bạc Liêu), diệt bức hàng, bức rút 23 đồn bót loại khỏi vòng chiến đấu trên 500 địch, diệt 200 tên ác ôn. Diệt, làm tan rã 3/4 tề xã, giải tán toàn bộ tề ấp, thanh niên cộng hòa, tổ chức phong trào cách mạng quốc gia trong vùng nông thôn, phá rã khu trù mật Phước Long, 250 binh sĩ bỏ ngũ, mang hàng trăm súng về với cách mạng. Ta giải phóng hoàn toàn 6 xã, giải phóng cơ bản 18 xã – tổng số 24/35 xã thị trấn trong khu vực, chiếm trên 60% dân số. Nhân dân làm chủ vùng nông thôn rộng lớn, liên hoàn, phía Bắn quốc lộ 4, vùng giải phóng nối liền từ xã Ninh Thạnh Lợi, Phong Thạnh Tây (tiếp giáp vùng giải phóng 2 tỉnh Cà Mau, Rạch Giá) kéo dài đến xã Ninh Quới, Châu Thới (tiếp giáp vùng giải phóng huyện Thạnh Trị). Ta làm chủ vùng vựa lúa Bạc Liêu (Phong Thạnh Tây, Phong Thạnh, Vĩnh Phú, Vĩnh Hưng, Châu Thới, Phước Long, Vĩnh Lộc, Ninh Quới, Ninh Hòa). Phía Nam quốc lộ 4 – từ sông Gành Hào ra biển Đông, ta mở các lỏm giải phóng liên hoàn từ Giá Rai – Vĩnh Lợi – Vĩnh Châu, đến cửa sông Mỹ Thanh. Huyện Hồng Dân, địch chỉ còn quận lỵ Phước Long, đồn Ngan Dừa, Vĩnh Phú và Phó Sinh. Huyện Giá Rai chỉ còn quận lỵ Giá Rai – Hộ Phòng, 6 đồn trên tuyến lộ 4 và đồn Cây Giang. Huyện Vĩnh Lợi còn 5 đồn trên tuyến lộ 4 và đồn Sóc Đồn; khu vực Vĩnh Châu còn quận lỵ và 3 đồn Prây Chóp, Trà Sết, Đại Bái. Thị xã Bạc Liêu, tuyến lộ 4, các quận lỵ và đồn bót trong thế bị vây ép, chống đỡ. Địch hoang mang, bất lực cao trào đồng khởi đều khắp, co cụm về thị xã, thị trấn cố thủ.

 

Đồng khởi thắng lợi, trước hết do đường lối đúng đắn của Đảng, Nghị quyết 15 của Trung ương và chủ trương nổi dậy “diệt ác phá kềm, giải phóng nông thôn” đã đáp ứng đúng lợi ích sống còn của nhân dân, chỉ ra con đường duy nhất đúng cho toàn dân tự cứu mình, cứu nhà, cứu nước; mọi nười đón mệnh lệnh của Đảng như người ngạt thở được luồng gió mới hồi sinh. Đảng viên, Đoàn viên ta số lượng ít, nhưng tiền phong dũng cảm, được dân yêu mến phục; mệnh lệnh đồng khởi truyền ra, lập tức hàng trăm, hàng ngàn quần chúng xuống đường, gậy gộc, giáo mác, mã tấu tiến công kẻ thù. Nhân dân tỉnh nhà vốn có truyền thống cách mạng, tinh thần quật khởi, căm thù địch nung nấu, khao khát tự do, khi có chủ trương đúng đắn của Đảng, có thời cơ cách mạng, thì nhân dân vùng lên với khí thế cao trào. Đồng khởi 1960 không chỉ có đảng viên, đoàn viên, cốt cán, gia đình cách mạng, quần chúng tích cực, mà có các bộ phận quần chúng lừng chừng, chậm tiến, anh em thanh niên cộng hòa trước đây bị địch cưỡng ép… nay anh em đã xuống đường đồng khởi, diệt ác phá kềm. Kinh nghiệm quá trình dồng khởi phải bắt đầu từ diệt ác mới phá được kềm, giải tán tổ chức phản động, nhân dân giành quyền làm chủ, tiến lên, bao vây, dứt điểm đồn bót địch giải phóng nông thôn. Về phía địch, chính sách cai trị phát xít độc tài của Mỹ - Diệm đã đẩy đồng bào Khmer – Hoa ở Bạc Liêu vào tình thế “tức nước, vỡ bờ”, chính chúng là “giáo viên phản diện” để mọi người không phân biệt dân tộc, tôn giáo, chính kiến phải đoàn kết chống kẻ thù chung Mỹ - Diệm.

 

Đồng khởi 1960 ở Bạc Liêu và toàn miền Nam đã kết thúc chặng đường 6 năm đấu tranh cam go, khốc liệt và không cân sức, kết thúc cuộc chiến tranh một phía của Mỹ - Diệm “tố cộng diệt cộng”, chuyển sang hình thái chiến tranh mới – chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược kiểu mới của Mỹ ngụy. Ở Bạc Liêu, thắng lợi Đồng khởi 1960 còn đi liền với thắng lợi to lớn về chính trị góp phần to lớn xóa được hận thù giữa đồng bào Khmer – Việt do thực dân Pháp gây ra, khôi phục khối Đại đoàn kết dân tộc tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trước đây bị địch cưỡng ép… nay anh em đã xuống đường đồng khởi, diệt ác phá kềm. Kinh nghiệm quá trình đồng khởi phải bắt đầu từ diệt ác mới phá được kềm, giải tán tổ chức phản động, nhân dân giành quyền làm chủ, tiến lên, bao vây, dứt điểm đồn bót địch, giải phóng nông dân.

Huỳnh Kim Gia

 

Nguồn: Bản tin Tri Thức Bạc Liêu Số Xuân Canh Tý năm 2020

 

 


Số lượt người xem: 290 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày